Hạnh Phúc Kỳ Diệu – Chương VI


Chương 6 – MỖI NGƯỜI CHÚNG TA LÀ MỘT THẾ GIỚI KỲ DIỆU

Thế kỷ thứ 20 đã mở nhiều cánh cửa kỳ diệu cho chúng ta thấy những bí mật của vũ trụ và con người. Ngày nay khoa học đã cho thấy vật chất và tâm linh không phải là hai thứ tách biệt. Chúng liên hệ mật thiết với nhau. Nhiều hiện tượng kỳ lạ xảy ra chung quanh chúng ta chẳng qua là sự tác động qua lại của tinh thần và vật chât. Những gì mà khoa học có thể giải thích được thì chúng ta gọi đó là các hiện tượng tự nhiên. Những gì khoa học chưa giải thích được thì chúng ta gọi những hiện tượng ấy là phép lạ.

Phép Lạ Nơi Vùng Núi Hy Mã Lạp Sơn

Tôn giáo nào cũng thường nói đến phép lạ, những điều lạ lùng mà con người có thể làm được qua sự cầu nguyện, qua sự tu tập các pháp môn bí truyền mà các nhà khoa học chưa có thể giải thích được rõ ràng. Tuy vậy, chúng ta đều biết nhiều hiện tượng gọi là “phép lạ” chỉ là sự đồn đãi vô căn cứ, không thể nào kiểm chứng được có thật hay không.

Bác sĩ Herbert Benson, một chuyên viên nghiên cứu về khả năng của tinh thần con người, đã đọc những tác phẩm của một phụ nữ người Pháp, bà David Neel, tu tập theo Phật giáo Mật Tông rất nhiều năm tại Tây Tạng nói về những thần thông, những phép lạ mà các vị thầy Tây Tạng có thể làm được như ngồi ngoài tuyết giá lạnh mà không cần áo quần, có thể chuyển năng lực tâm linh của mình làm cho người đã chết và thú vật đã chết hay đồ vật chuyển động, có thể chọn con đường tái sanh trong kiếp sau, v.v… Khi được biết ngài Đạt Lai Lạt Ma, được dân chúng Tây Tạng tôn xưng Ngài là vị Phật sống, đến tị nạn cùng với các vị cao tăng ở vùng Dharmashla thuộc khu vực núi Hy Mã Lạp Sơn, bác sĩ Benson muốn thực hiện công việc nghiên cứu một cách khoa học khả năng kỳ diệu của tinh thần hay tâm thức con người tác động vào đời sống thể chất của họ.

Điều mà bác sĩ Benson, chuyên viên nghiên cứu về sự tác động của tinh thần làm thay đổi các tình trạng thể chất, thích thú và mong muốn tìm hiểu là cách các vị cao tăng Mật Tông làm cho nhiệt độ da của họ tăng lên để chống lại giá rét theo phép tu gọi là Tam Muội Hỏa hay Tummo. Khi thực hành pháp môn này, các vị cao tăng ở trong một trạng thái an vui, hạnh phúc bao la và thân thể của họ ấm áp vô cùng, tuyết giá không làm cho họ bị cóng lạnh dù cho họ không mặc áo quần trong cái lạnh cắt da dưới không độ Fahreinheit hay 18 độ dưới không độ bách phân.

Phép Lạ Hiện Rõ Dưới Con Mắt Của Khoa Học

Vào đầu năm 1985, ban nghiên cứu thuộc trường đại học Harvard nói trên đã cử toán chuyên viên nghiên cứu cùng quay phim để ghi nhận thật sự sự thực hành cùng kết quả của pháp môn Tam Muội Hỏa này. Nhóm chuyên viên nghiên cứu đó đến một tu viện Tây Tạng thuộc vùng thung lũng Kalu phía Bắc Ấn Độ vào tháng hai 1985. Các vị cao tăng của tu viện thực hành một nghi lễ đặc biệt. Nhiệt độ trong phòng lúc đó là 40 độ F (khoảng 8 độ bách phân). Vào lúc 3 giờ sáng, mười hai vị tu sĩ Phật giáo Mật Tông tiến vào phòng, nơi các máy quay phim đã thiết trí. Họ cởi tăng bào ra và chỉ còn chiếc khố.

Các vị đó ngồi theo thế thiền tọa trên nền nhà. Họ lấy các tấm vải chiều dài là ba bộ, chiều ngang là sáu bộ (gần một thước chiều ngang và hai thước chiều dài) nhúng vào nước rảy cho hết nước thừa rồi quấn quanh phía thân trên của họ. Vải ướt dính vào da và làm cho da của họ hiện rõ sau làn vải. Theo bác sĩ Benson, nếu chúng ta, những người mạnh khỏe, để thân thể ở trần trong khí hậu như thế thì người sẽ run lên vì lạnh. Những vị thầy ấy vẫn thản nhiên tĩnh tọa.

Sau đó họ bắt đầu thực hành pháp môn Tam Muội Hỏa. Một hiện tượng kỳ lạ bắt đầu xuất hiện trong vòng năm phút sau đó: Các miếng vải thấm nước bắt đầu bốc hơi và càng lúc hơi nước càng nhiều. Hơi nước bốc lên mịt mù cả phòng làm cho các ống kính thu hình bị mờ nên các chuyên viên thu hình phải chùi ống kính luôn. Từ ba mươi cho đến bốn mươi lăm phút, các miếng vải ướt được hơi nóng từ thân các vị thầy Mật Tông làm khô hẳn.

Các vị thầy đó lại nhúng khăn vào nước, rảy bớt nước thừa và quấn vải ướt quanh người. Ba mươi phút sau các tấm vải ấy lại khô ráo. Và cứ như thế họ tiếp tục thêm nhiều lần nữa. Trong suốt buổi thực hành pháp môn làm gia tăng nhiệt độ nói trên, không có một vị nào tỏ ra bị rét hay run vì lạnh cũng như có một dấu hiệu khó chịu nào.

Bác sĩ Benson cho rằng các vị tu sĩ nói trên thực hành được phép lạ đó nhờ cách tu tập, ngồi thiền, thân tâm thoải mái, tin tưởng vào những lời dạy trong đạo Phật, v.v… Những điều trên tạo ra một sự thay đổi sâu xa về thân thể cũng như tâm thần của họ làm cho cơ thể họ tạo ra sức ấm giúp họ không bị cóng lạnh và tê liệt trong nhiệt độ khắc nghiệt trong thời gian lâu dài như vậy.

Cách Thực Hành Tam Muội Hỏa

Các vị tu sĩ Phật giáo trên đã thực hành một trong sáu pháp môn mầu nhiệm gọi là sáu phép thần thông của ngài Đại Sư Naropa truyền dạy gồm có:

1. Tam Muội Hỏa, pháp môn tu tập làm khai mở luồng hỏa hầu, đưa đến khả năng làm tăng nhiệt độ cơ thể.

2. Thiền quán về thân giả hợp, huyễn mộng thân, để thấy thân chân thật hay Chân thân.

3. Thiền quán về mộng, pháp môn thực hành để biết các điều trong giấc mộng, làm hết các ác mộng cùng chi phối hay thay đổi giấc mộng trở thành tốt đẹp theo ý mình.

4. Thiền quán về ánh sáng tỏa chiếu từ chốn rỗng lặng, rộng lớn, để sống trong niềm an vui kỳ diệu.

5. Thiền quán về Thân Trung Ấm, thần thức (thường gọi là linh hồn) chúng ta khi vừa mới qua đời và trước khi đầu thai thân người mới, để không bị sợ hãi và an nhiên tự tại lúc đối diện với cái chết, đồng thời làm quen với ánh sáng rực rỡ và mầu nhiệm cùng hình ảnh của chư Phật hiện ra để tiếp độ Thân Trung Ấm về cõi Cực Lạc.

6. Pháp môn chuyển thần thức để thọ sanh theo như ý muốn, chọn nơi chốn đầu thai cùng gia đình nào họ muốn đầu thai hay quay về với thế giới chư Phật, thế giới của nguồn an vui vô cùng hay Cực Lạc, thế giới của sự bình an, trong lành, hạnh phúc vô lượng vô biên hay Tịnh Độ, hoặc thế giới chân thật tuyệt đối được gọi là chốn Niết Bàn.

Chúng ta thử tìm hiểu các thực hành Tam Muội Hỏa, một trong sáu phép thần thông nói trên.

Vị tu sĩ Mật Tông Phật Giáo trước hết phải lạy Phật, trì chú, tụng kinh, nguyện làm các điều lành, ăn năn sám hối các điều ác đã vô tình hay cố ý làm. Sau đó họ thực hành phép quán đảnh, thấy hình ảnh của các vị Phật và vị thầy của mình trên đỉnh đầu. Phép quán đảnh này phải do một Quán Đảnh Sư, một vị thầy đã nhận được phép Quán Đảnh truyền cho mới linh nghiệm.

Sau thời gian thuần thục với lối thở đặc biệt, quán tưởng các hình ảnh chư Phật, trì chú, người tu quán thấy thân mình như thân của vị Phật, họ quán thấy thân vị Phật tử nhỏ như một hạt cải đến lớn như vũ trụ bao la. Tiếp đến họ quán tưởng đến các Bảo Liên Hoa (Chakra) cùng các luồng khí chạy theo các đường kinh mạch chạy từ vùng dưới thân đến luân xa giữa hai chân mày, quán thấy toàn thân rỗng lặng và quán thấy lửa trong thân. Phương pháp tu tập rất công phu để khai thông kinh mạch và khai mở các Bảo Liên Hoa, gia tăng thần lực và đưa đến kết quả kỳ diệu của pháp môn Tam Muội Hỏa nói trên.

Điều ấy khiến cho các nhà nghiên cứu dù đặt nặng sự giải thích trong phạm vi khoa học cũng thừa nhận rằng tinh thần có thể làm chuyển đổi cách phản ứng của thân thể mà pháp môn Tam Muội Hỏa là một trường hợp cụ thể nhất mà khoa học tân tiến ngày nay có thể khảo sát một cách rõ ràng từ đầu đến cuối và lập đi lập lại nhiều lần vẫn thấy nguyên nhân, tức là sự thực hành tu tập (nhân) và kết quả đắc được thần thông (quả), không sai biệt.

Sự kiện nói trên tuy rất giản dị đối với các vị tu sĩ Phật giáo nhưng đối với khoa học chữa trị bệnh tật con người đó là một bằng chứng rất quan trọng về mặt thực hành cách làm cho tinh thần an vui và thân thể khỏe mạnh cũng như cách vận dụng tinh thần, trong đó có niềm tin vào việc chữa trị các bệnh tật từ bệnh cảm cúm đến các bệnh ngặt nghèo như bệnh tim, ung thư và các chứng nan y khác. Ngày nay, hàng trăm bác sĩ trên thế giới đã sử dụng phương pháp thiền quán, quán tưởng, cầu nguyện hay biểu lộ những ước muốn chữa trị thành công nhiều chứng bệnh nan y. Đó là một sự thay đổi mới mẻ trong khoa học chữa trị bệnh tật tân tiến. Áp dụng những lời dạy bảo của các thánh nhân từ ngàn năm trước.

Cái Thấy Toàn Diện Và Chân Thật

Những sự thực hành trên đóng góp vào một biến cố của ngành y học. Vào cuối thế kỷ thứ hai mươi này chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng y khoa: Bệnh tật không còn được xem thuần túy là một yếu tố khách quan và độc lập từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể và phải dùng thuốc men để loại trừ mà thôi. Bệnh tật được xem như hậu quả một thái độ, một lối sống tạo nên những áp lực trên cơ thể đưa đến sự mất quân bình của đời sống. Từ đó bệnh tật sinh sôi nảy nở. Do đó, sự thay đổi thái độ sẽ làm cho cơ thể lành mạnh, góp sức rất nhiều cho việc chữa trị các bệnh tật mình đang mắc phải.

Điều này rất đặc biệt vì trên hai ngàn năm trăm năm nay đạo Phật nhấn mạnh đến sự toàn diện của thân và tâm – thân tâm nhất như – mà chúng ta cảm thấy rõ ràng khi thực hành thực sự tu tập giác ngộ. Thói quen của người Tây phương phân chia con người thành hai phần riêng biệt một bên là cái gì cao quý và thể xác là nguồn gốc của tội lỗi, là đầu mối căn bản của nhiều sự sai lầm trong sự giáo dục con cái cũng như trong tôn giáo, v.v… mà chính ngày nay họ đang làm một cuộc cách mạng kỳ diệu để xóa bỏ sự hiểu biết sai lầm mà đạo Phật gọi là vọng tưởng đó. Đạo Phật nhấn mạnh đến tính cách bất nhị – không hai – có mặt trong vạn pháp, trong các hiện tượng tâm linh cũng như các vật chất.

Thông thường chúng ta phân biệt mọi thứ thành hai phía đối nghịch như cao – thấp, lớn – bé, lành mạnh – bệnh tật, tội lỗi – đạo đức, tâm – vật, sống – chết, trong – ngoài, sáng – tối và thấy chúng hoàn toàn tách biệt với nhau. Đức Phật có một cái thấy chân thật gọi là trí tuệ biết rõ các thứ mà chúng ta thấy đối nghịch với nhau đó thực ra chúng nương tựa với nhau mà có mặt chứ không phải chúng hoàn toàn tách biệt và độc lập hẳn với nhau như cái thấy biết sai lầm thông thường. Như một vật đứng một mình thì không có cái gì để so sánh lớn hay nhỏ, nó chỉ lớn hay nhỏ khi có một vật khác để so sánh.

Một ngọn đồi là lớn nếu so sánh với túp lều dưới chân đồi nhưng lại quá nhỏ so với hòn núi kế đó. Và hòn núi cũng trở nên nhỏ bé khi so sánh với biển cả. (Nếu nhìn sâu vào các thứ quanh ta, tất cả đều do 103 hạt nguyên tử căn bản kết hợp nhau lại mà thành. Và các hạt nguyên tử này do đâu mà có? Nền tảng của chúng là những sự kết hợp của các hạt điện tử tạo thành nhân ở giữa và các điện tử quay vòng quanh như mặt trời và các hành tinh. Và các hạt điện tử này xuất hiện do những rung chuyển lượng tử, một sự rung chuyển làm xuất hiện các vật chất căn bản mà không ai biết từ đâu phát sinh.)

Đạo Phật nhấn mạnh đến vô thường, sự chuyển biến không ngừng của mọi sự vật dù bên ngoài chúng ta thấy chẳng có gì thay đổi. Như xương trong cơ thể chúng ta, bề ngoài nó vẫn như thế nhưng thật sự chỉ trong vòng ba tháng tất cả các chất cấu tạo thành bộ xương cứng cáp của chúng ta hoàn toàn là thứ mới. Do đó, mọi sự vật, mọi hiện tượng bên trong cơ thể hay bên ngoài thiên nhiên đều là một tiến trình, một sự tiếp diễn liên tục chứ không phải là một cái gì có tính cách riêng biệt và như thế mãi (vô ngã). Đạo Phật nói đến tính cách vô ngã của mọi hiện tượng: tất cả hiện tượng đều do những yếu tố khác nhau kết hợp lại mà thành. Chúng liên hệ với nhau một cách mật thiết để xuất hiện, để có mặt dưới hình thức này hay hình thức khác. Như cơ thể chúng ta là một cộng đồng đủ các loại tế bào tạo nên các bộ phận như tim, gan, phổi, xương, ruột, v.v… Ngoài ra cơ thể chúng ta cũng chứa hàng triệu triệu các loại vi trùng từ ngoài đến. Các loại vi trùng ấy không làm hại chúng ta khi nào cơ thể chúng ta đủ sức chống chọi lại chúng.

Như thế, một người bị bệnh không phải là do vi trùng xâm nhập mà thôi mà còn do yếu tố kháng cự của cơ thể. Một cơ thể có hệ thống miễn nhiễm (immune system) mạnh thì ít bệnh hoạn, một người có hệ thống miễn nhiễm yếu thì dễ dàng bị bệnh tật.

Dù lúc nào trong cơ thể chúng ta cũng có hàng triệu triệu các vi trùng của đủ chứng bệnh nhưng chúng ta vẫn khỏe mạnh vì hệ thống phòng vệ chống các bệnh tật đó đã biết rõ các loại vi trùng và “khí giới” của chúng sử dụng để tấn công cơ thể chúng ta. Chính vị bác sĩ danh tiếng, ân nhân của nhân loại là Louis Pasteur, người đã khám phá ra sự có mặt của vi trùng và nhờ đó mà y khoa tiến một bước dài, trước khi lâm chung đã thừa nhận bệnh tật không phải do vi trùng gây ra mà thôi, mà cũng do khả năng của cơ thể chống lại bệnh tật.

Các bệnh tật gồm nhiều thứ, có thứ do sự phòng vệ yếu kém của cơ thể trước sự tấn công của vi trùng xâm nhập, có thứ do các bộ phận bị hư hại bên trong như tim yếu, gan chai cứng, não bị hư hại, các nhánh xương nhỏ mọc ra nơi các khớp xương, các tế bào sinh sôi hỗn loạn tạo nên chứng ung thư, v.v… Hệ thống miễn nhiễm đóng vai trò hầu như quyết định trong việc duy trì một thân thể khỏe mạnh. Vậy chúng ta thử tìm hiểu hệ thống kỳ diệu này của cơ thể.

Pages: 1 2 3

Comments are closed.