“Cố Gắng Hết Sức Mình, Cầu Đài Sen Thượng Phẩm”

Sống trong cuộc đời, muốn được thong thả rảnh rang thì đừng dính đến quyền lợi. Làm việc hễ thuận duyên thì làm, không thuận thì phải khéo léo nhẫn chịu để vượt qua. Không phải hàng xuất gia không bị dính mắc vào quyền lợi. Huống nữa, chính quyền lợi đó sẽ đem đến những tai họa cho thân mình. Mấy huynh đệ tuổi còn trẻ, đường còn dài, phải lưu ý lắm mới được.

Nói đến đây, tôi nhớ lúc còn học tại chùa Báo Quốc ở Huế, nhân đọc Đại tạng đến quyển Trúc Song Tùy Bút của Đại sư Liên Trì, phần nói về “Con nhện con tằm”. Trong ấy nói hai con vật này đều nhả tơ, giăng lưới. Nhưng một con phải chết vì sự nhả tơ đó, còn một con thì lợi dụng sự nhả tơ để bắt mồi. Con tằm nhả tơ rồi bị đem đi luộc, còn con nhện cũng nhả tơ nhưng lại tự tại qua lại trên những sợi tơ đó, không bị vướng kẹt.

Đại sư Liên Trì đưa ví dụ này nhằm để khuyên nhắc tất cả mọi người. Vì ai nấy đều có sự nghiệp. Người đời cũng có sự nghiệp, mà người xuất gia cũng có sự nghiệp; chỉ là lớn hay nhỏ mà thôi. Tuy vậy, mình nhớ tạo sự nghiệp phải được như con nhện, đừng như con tằm nhả tơ rồi phải chết trong kén.

Tôi nhận thấy bài đó hay, lấy làm thích thú, luôn nhớ và đem ứng dụng tu hành. Nghĩ lại, từ năm 1946 tôi lập Liên Hải Phật Học đường, các Phật Học viện, thành lập chùa, ra làm việc cho Giáo hội như: Trưởng ban Giáo dục, Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, rồi Viện trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm… nhưng làm việc mà không bị ràng buộc.

Lúc làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự, đã 4 tháng mà tôi vẫn chưa mở văn phòng. Mấy thầy thấy vậy thắc mắc hỏi thăm, riêng tôi lại nghĩ hễ lập thì bị kẹt phải vào ở đó. Về sau, tôi đích thân xuống thỉnh HT.Thích Từ Nhơn giữ chức Phó Tổng vụ Tăng sự và đặt sẵn văn phòng tại chùa Ấn Quang. Thế là tôi mở văn phòng từ đó, nhưng chỉ đứng ở ngoài để lo tinh thần mà giảng kinh cho mấy huynh đệ học.

Tôi không phải mong cầu những cái lợi như người đời thường nghĩ, chỉ luôn luôn cầu công đức. Cái lợi của người tu chính là thiện căn công đức, đâu phải là tiền bạc vật chất. Mấy huynh đệ phải nhớ mình ở chỗ nào nơi nào cũng phải gây tạo thiện căn công đức, đừng chạy theo những vật chất bên ngoài.

Lúc giữ chức Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Tăng sự tất cả là 10 năm. Trong thời gian đó hễ thầy nào muốn du học qua Hồng Kông…, hễ đến tôi thì tôi ký. Mà phải trực tiếp đến mới được, nếu qua trung gian thì người khác sẽ nghĩ mình làm việc có điều không tốt, chẳng hạn như vì tiền. Tôi chỉ nghĩ, phải trợ giúp cho mấy thầy được thuận duyên tu học, làm được việc này cũng chính là vun bồi căn lành công đức cho mình, không bao giờ dính đến tiền bạc.

Điều thứ hai: Tôi luôn làm theo khẩu hiệu ngầm của riêng mình: Những việc đúng pháp, về mặt tinh thần hoặc vật chất thì “Không cầu cũng không từ”. Đây là khẩu hiệu để tôi lập thân, nghĩa là “Không tìm cầu cũng không từ chối”. Chẳng hạn, nếu có duyên cất chùa, mà cái duyên đó nó tự đến, nhận thấy đáng thì không từ chối. Cho đến tứ sự cúng dường cũng vậy, những vật gì không dùng, nhưng cũng không từ chối. Mình không sử dụng thì chuyển đến người khác, cho đại chúng dùng. Lúc trùng tu chùa Vạn Đức cũng vậy, tôi không cho đi quyên góp, ai hay biết thì đến cúng dường, còn “tìm cầu” thì nhất định không.

Ngoài ra, nếu làm việc gì, dù có cái lợi lớn trước mắt nhưng khi làm có cái hại xen vô trong hiện tại hoặc tương lai thì tôi quyết không làm, không tham dự. Ví dụ như: danh vị, tiền bạc, lời khen tặng… Nếu được lợi thì phải xem có cái hại hay không, nếu có phải tránh xa, thấy hại mà vẫn chạy vô thì bị nghiệp dẫn.

Tôi thấy việc tu hành đã trải qua mấy mươi năm, nhờ ứng dụng hai điều trên nên không bị tổn thất chịu cái hại lớn, mà lại thấy việc nhẹ nhàng thảnh thơi. Tuy vẫn có sự lo lắng cực nhọc, nhưng ít thôi, còn kết quả cũng khá nhiều.

Ở đây tôi đã nói tận đáy lòng, mấy huynh đệ thấy đúng lý thì nên bắt chước làm theo, để sự tu hành không bị vướng kẹt, thiện căn công đức luôn được tăng trưởng. Đó là điều tôi luôn mong muốn ở nơi tất cả mấy huynh đệ!


TIỂU SỬ TÓM TẮT HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH Hòa thượng quý danh là Nguyễn Văn Bình, pháp hiệu Thích Trí Tịnh.

Sinh năm 1917 (Đinh Tỵ) tại làng Mỹ Luông, quận Cái Tàu Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay là huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Viện chủ chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh; chùa Vạn Linh, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

  I. QUÁ TRÌNH XUẤT GIA

– Năm 1937 xuất gia với Hòa thượng Thích Hồng Xứng tại chùa Vạn Linh, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc (nay là huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang), được ban pháp hiệu Nhật Bình, hiệu Thiện Chánh, thuộc đời 41 dòng Thiền Lâm Tế Gia Phổ.

– Năm 1940 ra Huế học Trung đẳng Phật học tại Phật học đường Tây Thiên, Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Báo Quốc.

– Năm 1941, đăng đàn thọ giới Sa di tại chùa Quốc Ân và được Hòa thượng Thích Trí Độ đặt cho pháp hiệu Trí Tịnh.

– Năm 1945 trở về Nam, thành lập Phật học đường Phật Quang tại quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Giám đốc và Hòa thượng làm Đốc giáo kiêm Giáo thọ sư.

– Năm 1946, đăng đàn thọ giới Cụ túc và Bồ tát giới tại chùa Long An – Sa Đéc.

– Năm 1948, thành lập Phật học đường Liên Hải tại chùa Vạn Phước, xã Bình Trị Đông, quận Long Hưng Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh) và làm Giám đốc.

-Năm 1950, nhập thất tịnh tu tại chùa Linh Sơn – Vũng Tàu.

– Năm 1951, cùng Hòa thượng Thích Thiện Hoà sáp nhập 03 Phật học đường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, quận 10, tỉnh Chợ Lớn (nay là quận 10, Tp. Hồ Chí Minh).

– Năm 1953, khởi công xây dựng chùa Vạn Đức – Thủ Đức.

– Năm 1955, thành lâp Hội Cực Lạc liên hữu tại chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức; đảm nhiệm cương vị Giáo thọ A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu – Huế.

– Năm 1957, đảm nhiệm cương vị Trị sự phó kiêm Trưởng ban Giáo dục Giáo hội Tăng già Nam Việt và tổ chức các khóa Như Lai sứ giả tại chùa Pháp Hội, chùa Tuyền Lâm – Chợ Lớn, chùa Dược Sư – Gia Định để đào tạo trụ trì và cán bộ cho Giáo hội.

-Năm 1959, tại Đại hội kỳ II (ngày 10, 11/9/1959) tại chùa Ấn Quang, được suy cử vào cương vị Trị sự phó Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam; làm Tuyên Luật sư Đại giới đàn Hải Đức – Nha Trang.

– Từ năm 1960 – 1962, đảm nhiệm cương vị giới sư trong các Đại giới đàn tổ chức tại chùa Ấn Quang, chùa Pháp Hội – Chợ Lớn.

– Năm 1962, được Giáo hội Phật giáo Trung phần cung thỉnh vào cương vị Phó Viện trưởng Phật học viện Trung phần Hải Đức – Nha Trang.

– Năm 1964, làm Trưởng đoàn đại biểu Giáo hội Tăng già Nam Việt tham dự Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Xá Lợi để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất và Hòa thượng được Đại hội suy cử vào cương vị Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự.

– Năm 1964, đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật sư Đại giới đàn Quảng Đức tại Việt Nam Quốc tự – Chợ Lớn.

– Năm 1965, đảm nhiệm cương vị Yết ma Tiểu giới đàn tại Phật học viện Huệ Nghiêm – Chợ Lớn.

– Năm 1966, đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật sư Đại giới đàn Quảng Đức tại Phật học viện Huệ Nghiêm – Chợ Lớn.

– Năm 1966 – 1968, Đại hội kỳ II Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất được suy cử vào cương vị Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.

– Từ năm 1968 – 1971, tham gia Ban Giảng huấn Phật học viện Huệ Nghiêm.

– Năm 1969, đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật sư Đại giới đàn Quảng Đức tại Phật học viện Huệ Nghiêm.

-Từ năm 1970 – 1975, đảm nhiệm cương vị Khoa trưởng Phân khoa Phật học tại Đại học Vạn Hạnh – Sài Gòn.

– Năm 1971 – 1991, đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm.

– Năm 1973, đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Tam tạng thuộc Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.

– Từ năm 1974 – 1981, đảm nhiệm cương vị Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.

– Năm 1974 đến nay, đảm nhiệm cương vị Cố vấn Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc Tổ đình Ấn Quang.

– Năm 1975, được Hội đồng Giáo phẩm Trung ương GHPGVNTN cử làm Trưởng ban Kiến thiết Pháp Bảo viện tại xã Linh Xuân Thôn, quận Thủ Đức.

– Năm 1976, đảm nhiệm cương vị Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Năm 1980, đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật sư kiêm Chánh Chủ khảo Đại giới đàn Thiện Hoa tổ chức tại chùa Ấn Quang.

– Năm 1980, đảm nhiệm cương vị Phó Trưởng ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam.

– Từ ngày 4 – 7 11/1981, tại Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo toàn quốc, Hòa thượng được suy tôn vào cương vị Thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử vào cương vị Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

– Từ năm 1982 – 1987, đảm nhiệm cương vị Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh.

– Từ năm 1984 đến nay, đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

– Từ năm 1984 – 2001, đảm nhiệm cương vị Hòa thường đường đầu các Đại giới đàn do GHPGVN tổ chức tại chùa Ấn Quang.

– Năm 1984, tại Đại hội lần thứ 4 UBMTTQVN Tp. Hồ Chí Minh, Hòa thượng được tín nhiệm bầu vào cương vị Phó Chủ tịch UBMTTQ Thành phố; tại Đại hội lần thứ 3, Hòa thượng được tín nhiệm bầu vào cương vị Ủy viên đoàn Chủ tịch UBTWMTQVN.

– Năm 1994, được Đại hội lần thứ 8 UBTWMTTQVN bầu vào cương vị Phó Chủ tịch UBTWMTTQVN

– Năm 2004, đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Trí Tấn do Ban Trị Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức.

– Năm 2005, đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện Hòa 4 do Ban Trị Phật giáo tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tổ chức.

II. PHIÊN DỊCH:

01. Kinh Pháp Hoa : 08 quyển

02. Kinh Hoa Nghiêm : 08 quyển

03. Kính Đại Bát Niết Bàn : 02 quyển

04. Kinh Đại Bát Nhã : 03 quyển

05. Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tập : 12 quyển

06. Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện : 01 quyển

07. Kinh Địa Tạng bổn nguyện : 01 quyển

08. Kinh Tam Bảo : 01 quyển

09. Tỳ kheo giới bổn : 01 quyển

10. Bồ Tát giới bổn : 01 quyển

11. Kinh Pháp Hoa cương yếu : Tóm tắt

12. Kinh Pháp Hoa thông nghĩa : Tóm tắt

13. Cực Lạc liên hữu tập : 01 quyển

14. Đường về Cực Lạc : Trọn bộ

15. Ngộ tánh luận : 01 quyển

III. XÂY DỰNG CƠ SỞ:

– Năm 1995, phục hồi và đại trùng tu chùa Vạn Linh và tháp Tổ Hồng Xứng tại Núi Cấm, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

– Năm 2001, trùng tu Giảng đường, Phật đài Quan Âm lộ thiên, Thư viện, Thiền thất, phòng đọc sách chùa Vạn Đức.

– Năm 2002, chủ đầu tư xây dựng lại cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội – Thiền viện Quảng Đức.

– Năm 2004, xây dựng mới lại Chánh điện, Tổ đường chùa Vạn Đức.

thanhdungcao56@yahoo.com.au Sưu Tầm

This entry was posted in Tùy Bút. Bookmark the permalink.