Phạm Thiên Thư – Người tu sĩ lãng mạn


Sài Gòn có một quán café “Hoa vàng”, trước kia còn gọi là “Động hoa vàng”. Quán nằm ở Ngã Tư Bảy Hiền, trang nhã, tĩnh mịch và rất nên thơ. Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu dể ý một tí sẽ thấy một “lão nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm Thiên Thư, tác giả của những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành những tình khúc bất hủ

Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…”, ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa…Ngày ấy, trên con đường trải nắng vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về, nàng mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai… Chàng si tình, để lại những vần thơ xót xa và lung linh mãi đến sau này…

“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị..” là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, tác phẩm đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể hiện thành công bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài Gòn, người ta thường nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong “Ngày xưa Hoàng Thị” là ai? Một vài người tự nhận là mình, số khác lại bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong thơ là cô A hoặc cô B nào đó… Đến khi các phóng viên gặp Phạm Thiên Thư hỏi chuyện, ông nói rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng không hiểu tại sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?

Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên, Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số. Học xong Tú tài, Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh, chọn cửa Phật làm chốn dừng chân và gửi hồn vào cõi Thiền.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,.. Thơ Phạm Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ:

“…Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương…”
(Pháp Thân)

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị…” ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng thơ nên nhiều người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ đầu tiên chính là bài “Vết chim bay”, lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở cửa chùa.

Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, Phạm Thiên Thư đem lòng thương mến. Hai người quen nhau độ mươi ngày, một buổi chiều như bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng chẳng thấy bóng dáng cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn côi và nuối tiếc cho chàng trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm Thiên Thư đã viết nên bài thơ này:

“Ngày xưa anh đón em.
Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in…
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm…”

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín đáo. Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan biến thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái tình riêng trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng, đắm say trong thế giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những năm Tú tài , ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.

Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.

Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:

“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”

Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…

“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”

Một lần, có người hỏi ông “Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?” Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.

Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng vẫn làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra, trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.

Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi chùa với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16 tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa nở sớm sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên nhìn và tụng niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa được bên nhau mãi mãi…

Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp

Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ… Rồi mùa thu, mùa đông, hai người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có lò hương với làn trầm nghi ngút:

Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn

Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong lúc chạy trốn những cuộc hành quân. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như chính tình yêu của họ:

Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng

Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…

Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh cao của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực sâu của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm dương cách biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và huyền diệu. Cõi người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn thổn thức một lời hò hẹn từ kiếp trước.Và như thế, trong ánh sáng huyền diệu của Phật Pháp, họ không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng lánh như những giọt sương còn đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau sân chùa.

Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu,…Tất cả những ca khúc này đều nổi tiếng và được mọi người biết đến.

Ngày xưa Hoàng Thị…
Áo thu
Bâng khuâng
Hạ hoa
Động hoa vàng 96-100
Em lễ chùa này
Hạ ca
Vàng tay
Vết chim bay
Uống rượu
Áo lụa
Ngập ngừng
Động hoa vàng 60
Tà dương
Chiếu hoa
Động hoa vàng 57
Gò đào
Biếc phố
Hoang phế
Động hoa vàng 30
Kinh mây

Hẳn Phạm Thiên Thư không phải là nhà sư đầu tiên làm thơ tình. Nhưng ông là nhà sư làm thơ tình nổi tiếng đầu tiên. Tiếng nổi đáng lắm, vì thơ vừa hay vừa lạ.

Thơ tình PTT có gì lạ? – Nó nhẹ như khói, lãng đãng như sương, tuy nó chứa những cảm xúc yêu đương thiết tha không kém lòng yêu của bất cứ ai.

Lời tình tự của tu sĩ nó “khói sương” đến nỗi tưởng ta có thể nói nó đã thêm được một “kích thước” cho thơ tình. Chẳng phải khi lần đầu lời ấy khe khẽ cất lên, ta biết ngay mình đang nghe cái gì đó chưa nghe? Và chẳng phải sau đó ta dễ dàng tưởng tượng nếu lời ấy bỗng dưng biến mất, ta sẽ ngẩn ngơ, thấy như cả không gian thơ lãng mạn bỗng hẹp mất đi một chiều?

Sau đây là một số bài thơ tình sương khói và đôi bài thơ đạo thơm như nhang của tăng thi nhân họ Phạm. Thi phẩm giá trị của người còn nữa, nhưng xin được dành cho dịp khác.

Ngày xưa Hoàng Thị…

Võ Phiến bảo “Cái tình của một người tu (…) có nét đẹp riêng (…) Dáng em nho nhỏ là hình ảnh quen thuộc của phần đông các cô gái trong thơ ca (…) Nhưng cõi xa vời là khung cảnh riêng của Phạm Thiên Thư (…) Ông thù thì thủ thỉ (…) kêu khe khẽ những lời ân tình tha thiết không chịu được. Tình yêu của ông thật tội nghiệp (…) vì bên cạnh các mối tình (…) lúc nào cũng thấp thoáng cái ám ảnh của kiếp sống mong manh” (xem Văn học Miền Nam).

… Mười năm trước, “anh đi theo hoài, gót giầy thầm lặng“. Mười năm sau, anh “tình cờ qua đây (…) tìm xưa quẩn quanh”. Tìm sao cho thấy, vì trong mười năm ấy “đời như biển động” đã “xóa dấu ngày qua” rồi. Anh vừa “ngắt chùm hoa, mà thương mà nhớ“, vừa giẫm lên “bụi đỏ” mà thấm thía cái nghĩa vô thường…

em tan trường về
đường mưa nho nhỏ
chim non giấu mỏ
dưới cội hoa vàng

bước em thênh thang
áo tà nguyệt bạch
ôm nghiêng cặp sách
vai nhỏ tóc dài

anh đi theo hoài
gót giầy thầm lặng

đường chiều úa nắng
mưa nhẹ bâng khuâng

em tan trường về
cuối đường mây đỏ
anh tìm theo Ngọ
dáng lau lách buồn

tay nụ hoa thuôn
vương bờ tóc suối

tìm lời mở nói
lòng sao ngập ngừng
lòng sao rưng rưng
như trời mây ngợp

hôm sau vào lớp
nhìn em ngại ngần

em tan trường về
đường mưa nho nhỏ
trao vội chùm hoa
ép vào cuối vở

thương ơi vạn thuở
biết nói chi nguôi
em mỉm môi cười
anh mang nỗi nhớ

hè sang phượng nở
rồi chẳng gặp nhau

ôi mối tình đầu
như đi trên cát
bước nhẹ mà sâu
mà cũng nhòa mau

tưởng đã phai màu
đường chiều hoa cỏ

mười năm rồi Ngọ
tình cờ qua đây
cây xưa vẫn gầy
phơi nghiêng ráng đỏ
áo em ngày nọ
phai nhạt mấy mầu?

chân theo tìm nhau
còn là vang vọng
đời như biển động
xóa dấu ngày qua

tay ngắt chùm hoa
mà thương mà nhớ

phố ơi muôn thuở
giữ vết chân tình

tìm xưa quẩn quanh
ai mang bụi đỏ

dáng em nho nhỏ
trong cõi xa vời

tình ơi tình ơi!

Áo thu

Trời xanh, áo hồng, lá vàng. Bỗng mất đi một màu, lạnh buốt!

xưa em phơi áo giữa thu phong
lá vàng cài trên lụa rực hồng
nay áo đã cuốn về thiên cổ
lá vàng bay lạnh nỗi niềm không

Bâng khuâng

Thơ bốn chữ vốn là vè, là sớ Táo quân, là văn chương rất đỗi bình dân. Nhưng thơ bốn chữ của Phạm Thiên Thư thì lại không bình dân chút nào. Trong bài sau đây, thơ nhè nhẹ rơi rơi từng sợi… “bâng khuâng“!

(“Gái có chồng” mà còn “bâng khuâng” “nhớ anh thôn hoa“, chồng không cho về là phải! Mà bộ đi lấy chồng giấu “ai” hay sao mà “nghĩ ai còn chờ“?)

chồng em khắt khe
không cho em về

nhớ mẹ quê xa
xanh xao vườn cải
nhớ anh thôn hoa
vất vương nắng tái

nghĩ ai còn chờ
lòng sao ái ngại

vin chùm hoa dại
chiều nay bâng khuâng

mình gái có chồng

Hạ hoa

“Đêm nghe thơ nhỏ
động đáy lòng ta…”

Thơ nho nhỏ, rơi rơi, nhưng đố ai đọc rồi khỏi “dưng nhớ” niềm kia nỗi nọ!

đêm nghe mưa nhỏ
động mái lều thơ
dưng nhớ người xưa
áo vàng thuở nọ

người tình nho nhỏ
nhỏ mãi trong ta
như chùm hạ hoa

buồn ơi, đốt thuốc
lần trang sách nhòa
này những đóa hoa
ép từ hạ cũ

tưởng em tóc rũ
trong dòng mưa sa

Động hoa vàng 96-100

Động hoa vàng gồm 100 đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ lục bát. Về nội dung, liên hệ giữa các đoạn nói chung lỏng lẻo. Điều này cũng có chỗ hay, là người đọc có thể thưởng thức mỗi đoạn như một bài thơ độc lập.

Ngẫu nhiên, năm đoạn sau cùng của Động hoa vàng kết với nhau tương đối chặt, có thể xem như một bài thơ hai mươi câu. Hai mươi câu chót tóm tắt “thiền sư ỡm ờ” khá rõ: vừa tu vừa rượu (hơi quá chén nên mới “nằm say“), vừa tu vừa sát sanh, ăn mặn (“xuống đầm tát cá xâu cây“). Dĩ nhiên sư còn vừa tu vừa em, nhưng có lẽ vì đã em nhiều quá, em gần khắp mấy trăm câu thơ trước đó, nên đến đây thấy không cần nhắc nữa.

Tu ỡm ờ có ít nhất một chỗ hay, là nên thứ thơ thiền ỡm ờ rất ngộ.

Mai đây sư nhập niết bàn,
Tinh anh để Động hoa vàng cửa thơ!

gối tay nệm cỏ nằm say
gõ vào đá tụng một vài biến kinh
mai sau trời đất thái bình
về lưng núi phượng một mình cuồng ca

gây giàn thiên lý vàng hoa
lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
xuống đầm tát cá xâu cây
bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

khách xa nhớ đến nhau tìm
lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
hứng nước suối thết bình trà
hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

vào hang núi nhập niết bàn
tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
mai sau thí chủ nào nghe
tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

hoa vàng ta để chờ anh
hiện thân ta hát trên cành tâm mai
trần gian chào cõi mộng này
sông ngân tìm một bến ngoài hóa duyên

Em lễ chùa này

Cùng em đi lễ” đủ bốn mùa mới phải “tiễn đưa em“… Nhưng em là tăng hay tục, là ni hay ““? Nếu em trong cửa tam quan thì làm sao đi lễ với “anh” được? Mà nếu em ngoài cửa tam quan thì sao lại “vào nằm trong đất (…) vườn chùa“?
Dù sao,

“… Một nụ mai vừa nở trong nắng

Hỡi em ơi mây đã qua cầu“…

Thơ mà như nhạc! (Nên có người họ Phạm khác đem thơ làm nhạc!)

Đầu mùa xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp

Mùa hạ qua cùng em đi lễ
Trái mơ ngon đồi gió mơn man
Từ lò hương làn trầm nghi ngút
Khói hương thơm bờ tóc em rờn

Rồi mùa thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Hòa lời ca vào làn sương sớm
Gió heo may rụng hết lá vàng

Vào mùa đông cùng em đi lễ
Lễ chùa này một thoáng mưa bay
Và ngoài sân vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy

Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây

Vườn chùa đây vào nằm trong đất
Nép bên hoa ôi những hoa vàng
Vườn đào tơ chập chờn cánh bướm
Bướm khua râu ngơ ngác bay ngang

Mộ của em mộ vừa mới lấp
Có con chim nào hót trên cây
Lời của chim chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ buồn khóc ai hoài

Rồi từ đây vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em ngày tháng qua mau
Một nụ mai vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi mây đã qua cầu.

Hạ ca

Guốc rơi thành “hạ ca“, chân hồng lãng đãng thành “hạ vũ“. Tai nghe ca, mắt trông vũ, Bụt ơi!

Tóc xõa em về nghiêng nón hoa
Gió đùa tung giải áo thiết tha
Chân hồng lãng đãng trên đường phượng
Tiếng guốc rơi thành khúc hạ ca.

Vàng tay

Cứ “buồn ơi, đốt thuốc” (1) buổi chiều này buổi sáng kia buổi tối nọ, bảo sao ngón tay chẳng dài. Nhớ đã “vàng tay“, “đâu em có hay“…

nước vẫn trôi đi
bao giờ ngơi nghỉ
tình ta chung thủy
chẳng như dòng này

đâu em có hay
buổi chiều hôm nay
ta châm điếu thuốc

nhớ dài ngón tay

Vết chim bay

Chim có đậu nơi gác chuông, nên mới có vết chim đậu “in mãi bực thềm rêu“.
Tình sầu vô lượng” cũng có lần đậu trong lòng ai, nên nay ta mới có vết tình đậu in mãi trên trang thơ…

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bực thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay

Uống rượu

Chiều, bướm bay bờ suối, ngồi nhớ tay “dan díu” nhớ tóc tỏa hương, rồi rượu tì tì mà “quên say” vì “tình sầu vô lượng“. Chao ôi, tu!

hoàng hôn ven suối
vàng lau lách bay
đôi con bướm nhỏ
vẩn vơ rong ngày

nhớ chiều hạ nọ
dan díu bàn tay
lòng anh ngây ngất
làn hương tóc mây

giờ ai thèm nhớ
họa chăng cỏ cây

bên suối uống rượu
buồn hoài quên say

Áo lụa

Ai kia” mơ hồ lắm, mà sao lại “chần chừ“? Để tóc với guốc với áo kịp hóa thơ chăng?

một sợi tóc biếc
dài như mưa thu
lẫn trong sương mù

guốc nào động nhỏ
hoa nào rơi thưa

ai kia áo lụa
bước đi chần chừ

Ngập ngừng

Đây không phải “ngập ngừng” lối Hồ Dzếnh: vì e “tình mất vui khi đã vẹn câu thề“.
Đây là “ngập ngừng” lối Ngày Xưa Hoàng Thị…: “anh đi theo hoài, gót giầy thầm lặng“.

Theo Ngọ” mãi rồi cũng “trao (được) vội chùm hoa”. Trông “nàng xếp lụa đào” mãi, không biết rồi “anh” có “nhờ (được) tay nọ” xếp cho cái áo cái quần gì chăng.

nàng xếp lụa đào
vào rương nho nhỏ

còn anh quần áo
nửa đời lung tung
muốn nhờ tay nọ

lòng sao ngập ngừng

Động hoa vàng 60

Sư tức thị không, không tức thị sư, mặc áo tức thị không mặc, không mặc tức thị mặc, hiểu chưa vạc ơi.

hỏi con vạc đậu bờ kinh
cớ sao lận đận cái hình không hư
vạc rằng: thưa bác thiên thư
mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

Tà dương

Mặt trời xuống, mặt em lên, tình ơi!(2)

ta dong xe ngựa
ven núi tà dương
áo em phớt hường
trong chiều nắng quái

gò cương ngựa lại
chào em bên đường

tay vẫy tà dương

em là triêu dương

Chiếu hoa

Em” trao chiếu, “ta” lại ôm về “nỗi thiết tha“! Nằm trên thiết tha mà “tửu“, chắc mau hết “e con gái“…

Em lạc về rao bán chiếu hoa
Ta vốn e con gái đàn bà
Mua chiếc chiếu trải nằm uống rượu
Em vô tình trao nỗi thiết tha.

Động hoa vàng 57

Lâu lâu ghé Động hoa vàng hít ngửi một nhành tâm hương.
Hương lò cũ” đưa người về miền “đào tơ ửng má“, tóc nào sương bay?

dù mai lều cỏ chân trời
khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
em còn ửng má đào tơ
tóc xưa dù có bây giờ sương bay

Gò đào

“… nhận quà sư trao
tập thơ nho nhỏ
má cưng ửng đỏ
hai gò chiêm bao…”

Lúc tụng kinh, lúc làm thơ cho “cưng”, “ngộ ơi độ nào“!

tóc cưng xỏa biếc
tà áo bông đào

tay em hồng thạch
đôi nhành thanh cao
nhận quà anh trao
tập thơ nho nhỏ

má em ửng đỏ
hai gò chiêm bao

thương ơi độ nào

Biếc phố

Con đường ủ rũ, thời gian thở dài, “đôi cánh mày ai (…) đậm nét cảm hoài bâng khuâng“, ấy thế mà hồn người lại “nhẹ lâng lâng“! Hồn lâng lâng, chắc như “tóc bồng bềnh“…
Hạt nào biếc phố long lanh“. Phố nào biếc hạt mưa xanh một thời…

Lắng nghe từng sợi mưa dài
Cơn mây xõa tóc bên ngoài hè xanh
Hạt nào biếc phố long lanh
Hạt nào cẩn ngọc trên nhành tay hương.
Lắng nghe ủ rũ con đường
Mùa thu lấp ló trên tường rêu hoang
Lắng nghe đôi ngọn lá vàng
Xạc xào như tiếng thời gian thở dài
Lắng nghe đôi cánh mày ai
Dường như đậm nét cảm hoài bâng khuâng
Lắng nghe hồn nhẹ lâng lâng
Cảm ơn! Từng sợi tóc bồng bềnh mưa.

Hoang phế

Bướm trắng “dõi chút hương“, hay bướm trắng chính là chút hương đang bay chập chờn trong chiều “nắng lụn“…

ven núi vàng trơ mấy bức tường
chiều chiều nắng lụn cú kêu sương
có con bướm trắng vương nền cỏ
lẫn giữa ngàn lau dõi chút hương

Động hoa vàng 30

Thơ thẩn tìm thơ, lại vào Động hoa vàng lúc nào không biết. Ngó quanh quất, chợt thấy tranh sông đẹp: có mây trắng ngâm nước cạn, có cỏ xanh ít vàng nhiều, chắc là sông miền Trung (!)…

em nghiêng nón hạ cầu mưa
sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
hoa sầu cỏ cũng sầu chia
lơ thơ xanh tụ, đầm đìa vàng pha

Kinh mây

Trên trời nổi những “dòng mây”, rồi trên giấy nổi những dòng thơ. Thơ như bóng của mây. Hình tan lâu rồi, bóng còn đây…

trang kinh mây nổi trước hiên nhà
những dòng mây như những dòng hoa
gọi người nơi cõi mê bừng thức
đập tan cửa hoặc thoát hình ra
____________

(1) Xem bài Hạ Hoa.

(2) Tà dương là mặt trời xế chiều, triêu dương là mặt trời ban mai.

Nguồn: http://chimviet.free.fr/vanhoc/thutu/thutn080_phamthienthu.htm

Comments are closed.