Hạnh Phúc Chân Thường – Phần IV


PHẦN 4. KHẮC PHỤC CHƯỚNG NGẠI

Chương 12

ĐƯA ĐẾN ĐỔI THAY

DIỄN TRÌNH THAY ĐỔI

Tôi hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma: “Chúng ta đã thảo luận về khả năng đạt được hạnh phúc bằng cách loại trừ những cảm xúc và ý hướng tiêu cực. Nói một cách tổng quát, xin Ngài cho biết người ta phải làm thế nào để đạt được khả năng này tức là khai trừ những cảm xúc tiêu cực đồng thời tiến hành những thay đổi tích cực trong cuộc sống?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Bước đầu tiên là học hỏi. Giáo dục, như tôi đã đề cập trước đây, là điều rất hệ trọng …”

“Có lẽ Ngài định nói về vai trò quan trọng của học hỏi khi chúng ta tìm hiểu về sự tác hại của những cảm xúc và ý hướng tiêu cực trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc cũng như những lợi dưỡng có được từ các cảm xúc tích cực ?”

“Đúng thế, nhưng khi bàn thảo về khuynh hướng đưa đến những thay đổi tích cực trong mỗi cá nhân, học hỏi chỉ là bước đầu. Những dữ kiện khác cần phải nói đến là một niềm tin vững mạnh, cương quyết, hành động và cố gắng. Cho nên sau khi học hỏi, chúng ta cần phát triển một niềm tin vững chắc. Niềm tin này làm cho chúng ta có được quyết tâm; rồi chúng ta chuyển quyết tâm thành hành động, và để hành động có kết quả, chúng ta cần những cố gắng liên tục.

“Hãy lấy thí dụ như khi chúng ta muốn bỏ thuốc lá. Trước hết, chúng ta phải hiểu được rằng thuốc lá có hại cho thể xác và hiểu biết này đến từ giáo dục. Về vấn đề này, tôi thấy truyền thông và giáo dục quần chúng về tác hại của thuốc lá đã thay đổi cảm quan của nhiều người vì hiện nay tại các quốc gia Tây phương, người ta ít hút thuốc lá hơn so với các xứ Cộng sản như Trung quốc chẳng hạn. Hiểu rằng thuốc lá có hại cho sức khoẻ là chuyện cần thiết nhưng chưa đủ, chúng ta phải phát triển sự hiểu biết này để đưa đến niềm tin rằng thuốc lá có những hậu quả tai hại đối với cơ thể. Tin tưởng như vậy rồi chúng ta mới tăng trưởng quyết tâm thay đổi và sau khi đã quyết định thay đổi, chúng ta cần cố gắng để duy trì lối sống mới. Đây là những giai đoạn không thiếu được của những thay đổi nội tại đối với bất cứ vấn đề gì mà chúng ta muốn hoàn tất. “Muốn đổi thay bất luận một loại cảm xúc nào, muốn nhắm đến bất cứ một mục tiêu hay hành động nào, chúng ta cũng cần bắt đầu bằng cách phát huy một ý chí hay ước muốn mạnh mẽ để hoàn tất công việc. Chúng ta cần nhiều nhiệt tâm và trong trường hợp này, ý niệm khẩn cấp rất có hiệu lực. Ý niệm khẩn cấp là một dụng cụ hữu hiệu giúp chúng ta vượt qua những khó khăn. Cũng giống như tính khẩn thiết của bịnh AIDS (SIDA) đã giúp nhiều người xét lại các hoạt động tình dục của mình và cũng như tôi thường nghĩ, nếu có đầy đủ tin tức, người ta thường cẩn trọng và quyết tâm hơn. Ý niệm khẩn cấp cũng là dữ kiện trọng yếu trong việc thay đổi. Nó cung cấp cho chúng ta những năng lực vô cùng lớn lao mà bình thường chúng ta không có. Trong những vận động chính trị cũng thế, càng nguy khốn thì càng tỏ ra khẩn thiết đến nỗi người ta quên cả đói khát, mệt mỏi, kiệt sức trong việc theo đuổi mục tiêu của mình.

“Tính khẩn cấp này không chỉ áp dụng vào việc khắc phục những khó khăn ở tầm mức cá nhân mà ở cấp cộng đồng hay quốc tế cũng vậy. Khi đến thăm St. Louis, tôi có gặp viên Thống đốc và tiểu bang này vừa trải qua một cơn lụt lớn. Viên Thống đốc nói với tôi rằng khi trận lụt xuất hiện, ông ta rất lo ngại về bản chất cá nhân chủ nghĩa của dân chúng vì nghĩ rằng họ sẽ không hợp tác để chống lụt. Nhưng khi trận lụt xảy ra, ông ta đã rất ngạc nhiên trước sự góp sức tích cực của mọi người. Họ đã hợp tác chặt chẽ và quyết tâm cao độ trong công tác chống lụt đã tạo một ấn tượng mạnh mẽ đối với viên Thống đốc. Cho nên theo tôi thì để hoàn thành một công tác quan trọng, chúng ta cần đến ý niệm khẩn cấp để giúp mọi người tự động nối vòng tay lớn hầu ứng phó với cuộc khủng hoảng.” Đức Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp: “Điều bất hạnh là chúng ta thường không có được ý niệm khẩn cấp này”.

Tôi lấy làm ngạc nhiên khi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh đến tính cách quan trọng của ý niệm khẩn cấp vốn đã rập khuôn theo Tây phương vì với quan niệm “Cứ để vậy – không sao đâu” của dân Á châu, người ta cho rằng vì cuộc sống có nhiều kiếp nên nếu không xảy ra trong kiếp này thì sẽ xảy ra trong một kiếp nào đó. Tôi hỏi:

“Nhưng vấn đề ở đây là làm sao người ta có thể khai triển ý niệm khẩn thiết và mối quan tâm cao độ trong đời sống hàng ngày? Liệu Phật giáo có giải pháp gì không?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Đối với hành giả Phật giáo, có một vài kỹ thuật để tăng trưởng quyết tâm. Trong kinh điển, đức Phật đã giải thích về tính quý hiếm của kiếp người, cơ thể chúng ta có vô số tiềm năng, làm sao để sử dụng chúng vào một mục tiêu thích đáng, những lợi dưỡng và ưu thế khi được mang thân người … Những lời giải thích này nhằm mục đích giúp chúng ta thấm nhuần với ý niệm tự tin, can đảm đồng thời khích lệ quyết tâm sử dụng cơ thể con người của chúng ta vào những cách thế tích cực. Bởi vậy, để gây tạo ý niệm khẩn cấp trong công tác thực hành trí tuệ, hành giả phải luôn luôn nhớ đến tính vô thường của kiếp sống, nhớ đến cái chết. Ý niệm vô thường ở đây được nói đến với một ý nghĩa rất phổ dụng chứ không có tính cách cao siêu thâm thúy. Nói khác đi, hành giả cần nhớ rằng bất cứ khi nào, có thể chúng ta sẽ không còn hiện hữu nữa, chúng ta sẽ chết rất bất ngờ. Ý niệm vô thường đi đôi với tiềm năng bao la của thân người giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta phải tận dụng từng giây từng phút quý báu của cuộc sống.

Tôi hỏi: “Suy ngẫm về vô thường, về cái chết có thể là một kỹ thuật hiệu nghiệm giúp người ta gây tạo ý niệm khẩn cấp để thực hiện những đổi thay tích cực. Liệu những người không phải là Phật tử có thể sử dụng phương pháp này hay không?” Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp với vẻ suy nghĩ: “Chúng ta nên thận trọng khi áp dụng phương pháp này đối với những người không phải là Phật tử. Có thể các hình thức này thích hợp với những người theo Phật giáo hơn. Hơn nữa, người ta vẫn có thể sử dụng một phương pháp vào các mục tiêu hoàn toàn trái ngược nhau.” Đức Đạt Lai Lạt Ma cười: “Này, không có gì bảo đảm rằng ngày mai tôi vẫn còn sống, vậy hãy vui thú thật nhiều ngày hôm nay!”

Tôi hỏi tiếp: “Đối với những người không phải là Phật tử, Ngài có đề nghị gì giúp họ gây tạo ý niệm khẩn thiết?” Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời:

“Như tôi đã nói, đây là vai trò của tin tức và giáo dục. Như tôi chẳng hạn, trước khi nói chuyện với các chuyên gia, tôi không biết nhiều về những khủng hoảng của môi sinh. Nhưng sau khi nghe họ giải thích về những vấn nạn mà chúng ta đang phải đối diện, tôi mới biết được tính nghiêm trọng của tình thế. Cách thức này có thể áp dụng với những vấn nạn khác mà chúng ta đang phải đối phó.

Tôi tiếp: “Nhưng nhiều khi, dù có đủ tin tức và dữ kiện, người ta vẫn không đủ năng lực để thay đổi. Làm sao để khắc phục được tình trạng này?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma suy nghĩ một lúc rồi đáp: “Tôi cho rằng có nhiều cấp độ khác nhau ở đây. Một mặt có thể là do những dữ kiện sinh học làm cho chúng ta thiếu quyết tâm, ít năng lực. Trong trường hợp này, người ta cần thay đổi lối sống bằng cách dùng những thực phẩm lành mạnh, ngủ nhiều, kiêng rượu … tức là những biện pháp giúp trí óc chúng ta tỉnh táo hơn. Mặt khác, người ta có thể cần đến sự trợ lực của thuốc men hay các phương tiện y học nếu nguyên nhân là bịnh tật. Ngoài ra còn có một dạng khác của tình trạng thờ ơ, thiếu năng lực, dạng này thuần túy do sự ủy mỵ của tâm thức …”

Tôi ngắt lời: “Vâng, đúng là điều mà tôi muốn nói tới …”

Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp: “Để khắc phục tình trạng yếu kém của tâm thức đồng thời gây tạo ý chí và quyết tâm để chế ngự những ý hướng và cảm xúc tiêu cực, tôi nghĩ phương pháp thích hợp nhất (cũng có thể là giải pháp duy nhất) là liên tục suy tưởng về những hậu quả tác hại của các cảm xúc tiêu cực. Chúng ta phải tự nhắc nhở một cách không ngừng nghỉ về những hậu quả tai hại này.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rất đúng về phương diện tâm lý. Vì là một tâm lý gia, tôi hiểu biết khá tường tận về tình trạng hằn sâu trong tâm tưởng của các hành vi và các ý tưởng tiêu cực mà hậu quả là người ta không làm sao thay đổi được. Vì nghĩ rằng có những động cơ tâm lý rất phức tạp nằm sau các cảm xúc này, tôi đã sử dụng vô số thì giờ để nghiên cứu và phân tích thái độ chống đối đổi thay của bịnh nhân. Với những ý tưởng này lởn vởn trong đầu, tôi hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma: “Người ta rất muốn tạo ra những đổi thay tích cực trong cuộc sống, tập các thói quen tốt nhưng thường khi, người ta có một cảm giác chống đối, một tình trạng ù lì ngăn cản chúng ta. Xin Ngài cho biết ý kiến.”

“Cũng dễ hiểu thôi.” đức Đạt Lai Lạt Ma đáp.

“Dễ Hiểu ? “

“Tại vì chúng ta đã quen thuộc với một lối làm việc nào đó và lâu ngày, nó làm cho chúng ta trở nên giải đãi vì được nuông chiều thái quá. Chúng ta chỉ làm những việc mà chúng ta thích, những việc đã quen thuộc.”

“Nhưng làm sao để khắc phục được tình trạng đó?”

“Sử dụng chính thói quen để làm lợi cho chúng ta. Chúng ta chắc chắn sẽ kiến tạo được các khuôn mẫu cảm xúc mới nếu cứ liên tục làm quen với chúng. Hãy nghe thí dụ sau đây: “Tại Dharamsala, tôi thường thức dậy để bắt đầu một ngày vào lúc 3 giờ rưỡi sáng. – Arizona, tôi thức dậy lúc 4 giờ rưỡi. Được ngủ thêm 1 giờ”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma cười: “Lúc đầu thì cũng cần một ít cố gắng để làm quen với chuyện này nhưng sau đó ít tháng thì nó trở thành thói quen, không cần phải công sức gì cả. Nhiều đêm đi ngủ trễ, tôi vẫn thức dậy vào lúc 3 giờ rưỡi để bắt đầu công việc của một ngày mới mà không cần phải suy nghĩ gì dù đôi khi tôi cũng muốn ngủ thêm vài phút. Đây là sức mạnh của thói quen.

“Do vậy, nếu cố gắng một cách liên tục, chúng ta có thể chiến thắng bất cứ dạng thức nào của hoàn cảnh tiêu cực để tạo ra những thay đổi tích cực cho đời sống. Nhưng cũng đừng quên rằng thói quen không xảy ra một sớm một chiều. Cá nhân tôi chẳng hạn, so với 20 hay 30 năm về trước, tình trạng tâm thức của tôi bây giờ thật ra rất khác biệt và sự khác biệt này chỉ xảy ra từng bước một.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma cười : “Tôi bắt đầu học Phật từ khi lên năm lên sáu, nhưng lúc ấy tôi chẳng thích thú gì dù sự tái sanh của tôi được mọi người coi là ở trạng thái cao cấp nhất. Mãi cho đến năm 16 tuổi, tôi mới bắt đầu có những ý tưởng nghiêm chỉnh về Phật giáo, và từ đó, tôi bắt đầu thực hành một cách nghiêm túc. Nhiều thập niên trôi qua, tôi bắt đầu hiểu đạo và thấm nhập các nguyên tắc. Về các pháp thực hành, mới đầu có vẻ vô kế khả thi và ngược với tự nhiên nhưng dần dà, chúng trở nên quen thuộc. Đây là tính thấm nhập của thói quen hoặc nói theo ngôn ngữ nhân gian là từ từ rồi đâu cũng vào đấy. Cái “từ từ” mà tôi nói ở đây đã kéo dài hơn 40 năm.

“Như vậy, chúng ta thấy sự phát triển tinh thần cần thời gian. Nếu ai đó nói rằng ‘Ôi, qua nhiều năm gian khổ, mọi chuyện đã đổi thay’ thì tôi rất đồng ý vì những đổi thay chân chính và trường cửu cần phải được thời gian tôi luyện. Nếu ai đó nói rằng ‘Mới có hai năm ngắn ngủi mà đã có những thay đổi lớn lao’ thì tôi nghĩ rằng không xác thực lắm.”

Trong khi khuynh hướng của đức Đạt Lai Lạt Ma về sự thay đổi xem ra có giá trị thuyết phục không chối cãi được thì có một chi tiết mà tôi cho là cần phải được nhất trí:

“Ngài đã đề cập đến ý chí và quyết tâm cao độ để chuyển hóa tâm thức con người, gây tạo những đổi thay tích cực. Cùng lúc đó, chúng ta hiểu rằng những thay đổi chân chính chỉ xảy ra từ từ, cần thời gian. Như vậy, người ta có bị nản lòng nếu những đổi thay xảy ra quá chậm chạp? Có bao giờ Ngài bị thối chí chỉ vì tiến trình huấn luyện tâm thức xảy ra quá chậm rãi hay nản lòng trong những phạm vi khác của cuộc đời?”

Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Có, quả có vậy.”

Tôi hỏi: “Rồi Ngài ứng phó như thế nào ?”

“Riêng về công cuộc huấn luyện tâm thức, khi gặp những chướng ngại hay trở lực, tôi thường lùi lại và nhìn vào những mục tiêu dài thay vì ngắn hạn. Về điểm này, tôi thấy đoạn kinh sau đây thường giúp tôi thêm can đảm và giữ vững quyết tâm:

Bao giờ vũ trụ còn trường cửu
Bao giờ chúng sinh còn tồn tại
Nguyện cho tôi vẫn sống còn
Để xóa tan những thống hận trên dương thế.

“Tuy vậy, trong công cuộc giành lại độc lập cho Tây Tạng, nếu tôi ứng dụng những ý tưởng này, nghĩa là sẵn lòng chờ đợi hết vạn kỷ này đến vạn kỷ khác, dài như sự trường cửu của vũ trụ … thì thật là xuẩn ngốc. Trong hoàn cảnh này, chúng ta cần đến những hành động cấp thời, những tham dự tích cực. Nhiều khi nhìn lại quá khứ, suốt 15 năm trời cố gắng thương thảo mà không đạt được một kết quả nào, 15 năm thất bại và uổng phí, tôi cũng có cảm tưởng mất kiên nhẫn và bực tức. Nhưng không vì thế mà tôi chán nản đến độ mất tin tưởng”

Tôi hỏi thêm: “Nhưng chính xác điều gì đã giúp Ngài không mất hy vọng?”

“Ngay trong trường hợp của Tây Tạng, nhìn sự việc từ một viễn tượng bao quát hơn có thể giúp chúng tôi đỡ khổ. Vì rằng nếu cứ nhìn hiện trạng bằng cảm quan chật hẹp, chỉ chú tâm đến chính vấn đề thì câu chuyện gần như tuyệt vọng. Nhưng nếu sử dụng một cái nhìn tổng thể, nhìn Tây Tạng trên viễn tượng toàn cầu thì những biến động đang xảy ra cho chủ nghĩa Cộng sản và hệ thống cực quyền chuyên chế giúp chúng tôi giữ vững niềm tin. Ngay ở Hoa lục cũng có những phong trào dân chủ. Do đó, tôi không buông xuôi.”

Nói về quá trình học tập tư tưởng Phật giáo và thiền quán của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi rất thích thú khi Ngài nhấn mạnh đến vai trò của học hỏi và giáo dục như là bước đầu tiên dẫn đến những chuyển hóa nội tại chứ không phải là những hoạt động tâm linh thần bí và siêu thực. Mặc dù giáo dục được coi là quan trọng trong việc học hỏi những kỹ năng mới và đảm bảo tính an toàn của công việc, nhưng vai trò chính của giáo dục trong việc đem lại hạnh phúc cho con người đã được tìm hiểu kỹ càng. Những cuộc nghiên cứu cho thấy ngay cả hình thức giáo dục thuần túy bác học cũng khiến người ta có một cuộc sống hạnh phúc hơn. Vô số các cuộc khảo sát cho người ta biết rằng một trình độ giáo dục cao hơn chắc chắn đã mang lại sức khỏe, nâng cao tuổi thọ và giúp người ta tránh được tình trạng suy thoái. Khi tìm hiểu lý do của những ảnh hưởng tốt đẹp này của giáo dục, các khoa học gia đã nhận ra rằng người có trình độ giáo dục cao thường nhận thức đúng đắn hơn về các dữ kiện có hại cho sức khoẻ, có khả năng theo đuổi các lối sống lành mạnh hơn, nhiều năng lực và tự tin, giỏi xoay trở khi gặp những trường hợp khó khăn cũng như ứng xử một cách hiệu quả hơn với cuộc sống. Đấy là những dữ kiện giúp người ta có một cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh hơn. Vậy nếu một nền giáo dục thuần lý thuyết đã liên hệ đến cuộc sống hạnh phúc thì cái học hỏi và giáo dục mà đức Đạt Lai Lạt Ma đề cập đến còn mãnh liệt đến dường nào? Một nền giáo dục nhắm thẳng vào việc thông hiểu và áp dụng toàn bộ dữ kiện để dẫn đến một thứ hạnh phúc trường cửu?

Bước kế tiếp trong đường lối của đức Đạt Lai Lạt Ma về thay đổi là tạo quyết chí và nhiệt tâm. Đây cũng là giai đoạn mà nền khoa học đương đại của Tây phương hoàn toàn chấp nhận, coi đó là điều rất cần thiết để con người đạt được những mục tiêu đề ra. Trong một cuộc khảo cứu, nhà tâm lý giáo dục Benjamin Bloom đã nghiên cứu những cuộc đời rất tài danh của một số nghệ sĩ, vận động viên và khoa học gia Hoa Kỳ. Ông ta khám phá ra rằng khát vọng và quyết tâm, chứ không phải tài năng thiên bẩm, đã là nguyên nhân của sự thành đạt trong những lãnh vực riêng biệt. Và cũng giống như những địa hạt khác, người ta có thể xác quyết rằng những nguyên tắc này cũng được áp dụng trong nghệ thuật thu đạt hạnh phúc.

Các nhà khoa học chuyên về hành vi con người đã nghiên cứu sâu rộng về động cơ thúc đẩy chúng ta khởi xướng, gìn giữ và điều hướng những hành động của chúng ta; họ gọi đây là môn học về những động lực thúc đẩy con người. Các tâm lý gia đã nhận diện 3 loại động cơ chính yếu:

Thứ nhất là những động lực sơ đẳng. Đây là những khát vọng dựa trên các nhu cầu sinh thái để sống còn. Loại này bao gồm những nhu cầu về thực phẩm, nước và không khí. Thứ hai là những động lực bao gồm các nhu cầu của con người về sự kích thích và thông tin. Các nhà nghiên cứu đã giả định rằng đây là những nhu cầu bẩm sinh cần có để con người có thể trưởng thành, phát triển cũng như sự vận hành của hệ thần kinh. Thứ ba là những động lực dựa trên học hỏi và ước muốn, loại động lực nhị đẳng. Người ta cần rất nhiều những động lực thuộc loại này để có được thành công, quyền lực, địa vị tức là những thành đạt trong cuộc sống. Ở cấp độ này, hành vi và khát vọng của con người có thể bị ảnh hưởng bởi hấp lực của xã hội và được điều hướng bởi học hỏi. Chính ở cấp độ này, các lý thuyết của tâm lý học tân tiến đã gặp gỡ những ý niệm về khai triển quyết chí và nhiệt tâm của đức Đạt Lai Lạt Ma. Điểm khác biệt là trong hệ thống của đức Đạt Lai Lạt Ma, khát vọng và quyết tâm của người ta không nhắm vào lợi lộc thế tục nhưng là để thông hiểu một cách thấu đáo những dữ kiện đưa đến hạnh phúc chân thực và chúng được dùng để theo đuổi những mục tiêu cao cả hơn như hòa nhã, từ ái và phát triển tâm thức.

Nỗ lực không ngừng nghỉ mà thuật ngữ nhà Phật gọi là Tinh Tấn là sự kiện cuối cùng dẫn đến đổi thay. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhận diện nỗ lực như là yếu tố cần thiết trong việc thiết lập một hiện trạng mới. Ý tưởng cho rằng chúng ta có thể thay đổi những hành vi và ý hướng tiêu cực của mình không những được chia xẻ bởi các tâm lý gia Tây phương mà trên thực tế, ý tưởng này còn là trọng tâm của môn hành vi trị liệu đương thời. Phương thức trị liệu này dựa trên nguyên tắc căn bản là người ta có thể học tập để trở thành cách thế mà chúng ta muốn, cũng như để tạo lập một hiện trạng mới. Hành vi liệu pháp đã tỏ ra hữu hiệu đối với những rắc rối trong nhiều lãnh vực.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8

Comments are closed.