Tịnh Ngữ Trong Lòng Bàn Tay


Tịnh độ nơi này
“Chung trà trên tay
Di Đà một niệm
Tịnh Độ nơi này”
(Thơ Đông Tùng)

Câu hỏi nan giải muôn đời dành cho các nhà triết học và tôn giáo học là “Ta từ đâu sinh ra và chết sẽ đi về đâu?”. Những ai muốn biết được đáp án chính xác cho câu hỏi trên thì người ấy phải đứng ngoài vòng sinh tử luân hồi. Đạo Phật ra đời và tồn tại đến ngày nay là để vạch ra con đường giúp mọi người thoát ly sinh tử.

Làm cách nào mới có thể thoát khỏi biển sinh tử? Phải đoạn tận phiền não. Như vậy có phải là quá khó chăng? Đúng là rất gian nan, tất cả các pháp môn của Phật nói đều phải đoạn hết phiền não mới rời xa được luân hồi. Nói như vậy không phải không có ngoại lệ, Tịnh Độ tông là con đường duy nhất có thể giúp người chưa đoạn hết phiền não mà vẫn có thể thoát khỏi sáu đường sinh tử.

Hành giả Tịnh Độ tông chỉ cần dùng lòng tin kiên cố mà nắm giữ câu hồng danh A Di Đà Phật trong lòng thì nhất định sinh sang thế giới của Phật A Di Đà. Hàng ngày duy trì niệm A Di Đà liên tục, không gián đoạn thì tâm hành giả được tịnh, niệm tịnh tồn tại thường trực trong lòng thì phiền não không còn cơ hội phát sinh. Lâu ngày phiền não bị cô lập và không phát huy tác dụng của nó nữa, nói một cách dễ hiểu là phiền não được “ngủ yên”, như vậy gọi là phục phiền não.

Người phục phiền não đối cảnh thuận không đam mê, gặp cảnh nghịch không sân hận. Đó là biểu hiện dễ thấy nhất. Nếu chạm phải tám gió (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc) mà còn khởi tham, sân, si thì chưa gọi là phục phiền não.

Không có pháp môn nào như Tịnh độ, chỉ đạt ở mức độ phục phiền não mà có thể thoát ly sinh tử. Buông mọi việc xuống, một câu A Di Đà là đến bến giác.

“Buông bỏ muôn duyên
Di Đà một niệm
Trăng ghé am thiền”.
(Thơ Đông Tùng)

“Buông bỏ muôn duyên, một lòng niệm Phật”

“Buông bỏ muôn duyên, một lòng niệm Phật”. Phải hiểu câu này như thế nào mới đúng? Cuộc sống của chúng ta phải gắn liền với hoạt động xã hội, không thể quay lưng với công việc, nếu dừng tất cả công việc thì lấy chi để nuôi thân? Vậy thì làm sao buông bỏ muôn duyên, làm sao vô sự mà niệm Phật?

Vô sự ở đây, không có nghĩa là dừng tất cả công việc và không làm gì hết. Hàng ngày chúng ta vẫn phải làm để kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình mình, vô sự là vô sự nơi tâm. Phật và chư Tổ sư khuyên hành giả
Tịnh môn vô sự nơi lòng chứ không bảo mọi người đình chỉ công việc.

Trên thực tế, thân hoạt động nhiều thì tâm sẽ phan duyên và rong ruổi theo sáu trần, khó ai hoạt động mà không như vậy, chính vì thế chúng ta mới phải công phu, mới phải học cách sống theo công việc và gìn giữ tịnh niệm trong công việc.

Nếu duy trì được tịnh niệm liên tục không gián đoạn trong sinh hoạt hàng ngày thì không có chi để bàn nữa. Còn nếu không được như vậy, hành giả nên chuyên chú vào công việc mà mình đang làm, thân đang làm việc gì thì tâm trụ vào việc đó, không buông tâm ý theo việc khác, không nghĩ về chuyện quá khứ, không toan tính chuyện ở tương lai. Đó gọi là chính niệm. Sau khi công việc kết thúc thì đề khởi câu A Di Đà Phật.

Với người hành thâm pháp môn Tịnh độ, họ có thể vừa công tác vừa gìn giữ câu hồng danh A Di Đà xuyên suốt mà không gặp chướng ngại nào, không một vọng tưởng nào có thể xen vào dòng tịnh niệm ấy. Người mới bước đầu hành trì thì việc dụng tâm sẽ gian nan hơn, vọng niệm dễ sinh khởi và phá vỡ dòng chảy của tịnh niệm nhưng chỉ cần nhẫn nại thì trải qua thời gian sẽ được thuần thục, tâm ý sẽ dần được chuyển hóa.

Hành giả nên gìn giữ tịnh niệm trong công tác hàng ngày, đừng để kết thúc mọi việc mới bắt đầu công phu. Và một điều đáng lưu tâm nữa là học cách buông bỏ mọi việc khỏi lòng mình, không nên vướng mắc quá nhiều vào trần cảnh, càng bám víu vào trần cảnh thì càng khó gìn giữ và duy trì niệm A Di Đà nơi tâm.

Tịnh niệm và vọng niệm tuy hai mà một, ý rong ruổi theo duyên trần là mê là vọng, tâm an trụ vào câu A Di Đà Phật là giác là tịnh. Hãy để lòng vô sự mà đề khởi hồng danh, để câu A Di Đà Phật thực sự được rót thẳng vào bản tâm thanh tịnh của chính mình. Xin nhẫn nại và tinh tấn!

Đới nghiệp vãng sinh

Cụm từ này dành riêng cho Tịnh Độ tông, còn tất cả các pháp môn khác thì không có trường hợp này. Nói dễ hiểu, “đới nghiệp vãng sinh” là còn nghiệp chướng nhưng vẫn có thể xuất ly sinh tử luân hồi, sinh sang thế giới Cực Lạc.

Đây là điều rất hy hữu và chưa từng xảy ra đối với hành giả tu các pháp môn khác. Nhưng người tu niệm Phật cần phải hiểu rõ nghĩa lý của bốn chữ này, nếu không hành trình tiến về Cực Lạc của chúng ta sẽ bị ngưng trệ, thậm chí có thể không được vãng sinh.

“Nghiệp” – nói đủ là nghiệp chướng.

Nghiệp là những điều tạo tác từ thân – miệng – ý, những thứ ấy ngăn trở bản tính sáng suốt của ta. Chướng là những phiền não là ngăn ngại, cản trở đường đến Niết-bàn, Bồ-đề.

Muốn thoát ly luân hồi thì phải “nghiệp tận, tình không”. Đó là cách thức tu hành thông thường của tất cả các pháp môn. Vì nhận thấy đoạn hết nghiệp chướng trong một đời là vấn đề quá khó nên Tịnh độ vạch ra con đường phục nghiệp và mang theo chúng mà xuất ly sinh tử.

Dĩ nhiên không thể hiểu theo kiểu là hàng ngày mặc tình gây tạo ác nghiệp, bất chấp tội phước, chỉ biết mưu cầu lợi ích cá nhân, thậm chí giết vật hại người… rồi sau đó đến lúc sắp qua đời đề khởi 10 niệm A Di
Đà để mang theo tất cả nghiệp ấy mà ra đi về cảnh Tây phương Cực Lạc, thọ hưởng an lành. Hành giả Tịnh môn nên chú ý:

Điều thứ nhất, người tạo ác nghiệp dù nhiều hay ít trong đời này thì đến khi sắp từ biệt cõi trần sẽ khó có thể duy trì 10 niệm A Di Đà trong chính định. Nếu như vậy thì không đạt tiêu chuẩn vãng sinh.
Điều thứ hai, mang theo nghiệp (đới nghiệp) tức là mang theo nghiệp chướng đã gây tạo trong vô lượng kiếp ở quá khứ, không chấp nhận trường hợp người ta không biết dừng việc xấu ác trong đời sống hiện tại và cũng không chấp nhận trường hợp người ý thức được điều xấu ác mà vẫn thực hành.

Điều thứ ba, nghiệp chướng mà hành giả mang theo phải được chế ngự hoàn toàn, tức là hành giả đã phục được nghiệp chướng, khống chế được chúng và chúng không có cơ hội phát huy tác dụng.

Đó là những điều kiện cần cho một hành giả Tịnh môn, người nào muốn vãng sinh thì nên đặc biệt lưu tâm đến những điều vừa trình bày trên. Tịnh độ là con đường có thể thoát ly sinh tử trong một đời nhưng điều đó không có nghĩa bất kỳ người nào niệm A Di Đà cũng đều được vãng sinh.

Nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà, đạt ra yêu cầu tối thiểu cho một người tu Tịnh độ là chỉ cần 10 niệm danh hiệu Ngài trong chính định thì Ngài hiện thân tiếp dẫn về thế giới Cực Lạc (dù người đó vẫn còn nghiệp chướng). Thoát ly sinh tử mà chỉ cần 10 niệm A Di Đà trong chính định thì rõ ràng là quá “ưu đãi” cho người tu Phật rồi, nếu chẳng nhờ bi nguyện của Đức Từ phụ A Di Đà thì sao có thể hưởng được Phật đức này.
Muốn đạt được nhất tâm trong 10 niệm A Di Đà Phật thì hàng ngày hành giả phải tích lũy công đức, niệm A Di Đà đạt đến độ thuần thục, không vọng tưởng. Bên cạnh đó, hành giả cần vun bồi thiện phước, làm lợi ích cho mọi người, dẹp đi tham chấp tự ngã, chuyển hóa điều bất thiện nơi lòng mình.

Trăng tỏa lòng ta
“Một niệm Di Đà
Vơi tan trần cấu
Trăng tỏa lòng ta”.
(Thơ Đông Tùng)

“Một niệm A Di Đà Phật có thể diệt trừ được trọng tội trong 80 ức kiếp sinh tử”.

Câu nói này có hư dối chăng? Nếu câu này là sự thật thì tại sao hàng ngày các bạn và chúng tôi đều gìn giữ niệm A Di Đà nhưng dường như chẳng thấy tội lỗi giảm đi, nghiệp chướng được tiêu trừ, phiền não được vơi bớt mà chỉ thấy toàn điều bất an, bất như ý hiện hữu trong lòng. Hãy dùng tuệ giác suy xét để không phải hoài nghi lời của người xưa nói.

Nghiệp nhân mà chúng ta tạo ra trong vô lượng kiếp quá khứ là vô biên, nếu những nghiệp nhân ấy có hình tướng thì thái hư này không còn chỗ để dung chứa chúng. Nghiệp nhân nhiều như núi băng, công phu như đốm lửa nhỏ thì không thể một sớm một chiều mà phá tan đi được. Điều này không đồng nghĩa với phủ nhận diệu dụng của hồng danh A Di Đà mà vấn đề muốn nói ở đây là cần có thời gian hành thâm dài lâu.

Hễ là con người thì không ai không mang nghiệp nơi thân. Nhưng nghiệp tạo tác ở hiện tại thì dễ đoạn trừ, nghiệp tạo tác trong quá khứ thì rất khó phá tan, cho nên mới phải nhờ vào tha lực của Phật A Di Đà. Hồng danh A Di Đà quả thật có diệu dụng rất to lớn, nhưng thời lượng công phu hàng ngày chỉ là bước đầu khởi tu nếu đem so sánh với thời lượng trong vô lượng kiếp quá khứ gây tạo ác nghiệp thì chẳng là bao. Cho nên hành giả cần trang bị cho mình tinh thần nhẫn nại, dũng mãnh và tinh tấn nếu muốn đả phá thành trì của nghiệp chướng.

Để câu hồng danh thực sự phát huy hết diệu dụng của nó thì hành giả cần buông bỏ muôn duyên, một lòng niệm Phật. Không thể vừa đam mê tiếng tăm, lợi dưỡng của thế gian vừa mong muốn thoát ly trần lao. Khi lòng bám víu vào danh lợi, tài sắc thì dù có duy trì hồng danh A Di Đà cũng không có tác dụng an tâm huống chi là đoạn trừ nghiệp chướng.

Nghiệp như bóng tối, nó che mờ thể tính của mỗi người. Nhưng nó không có thực tính, nó là không, là huyễn mộng. Tuệ giác như ngọn đèn, có thể phá tan nghiệp chướng như căn phòng ngàn năm chìm trong bóng tối, đèn vừa thắp lên thì lập tức bóng tối ấy tan biến.

Hãy tin vào chính bản thân mình, mỗi người đều có năng lực để chuyển hóa nghiệp chướng, cộng thêm tha lực của Phật A Di Đà, nhất định sẽ đi đến thành tựu.

Tự lực và tha lực

Có hai đứa trẻ sống bằng nghề móc bọc. Một ngày nọ, trên đường về nhà, chúng thấy bên bãi rác có hai chiếc bình, trong mỗi chiếc chứa một viên minh châu nằm lẫn với bùn đất. Mỗi đứa liền giành lấy một chiếc.
Đứa trẻ thứ nhất dùng sức của mình mang chiếc bình đến bờ sông đãi bùn đất ra, nhặt lấy viên minh châu rồi ra về. Đứa trẻ thứ hai biết nó không đủ sức nên nhờ một bác phu xe bên đường chở giúp đến bến sông. Cuối cùng nó cũng lấy được viên minh châu về cho mình. Cả hai về sau trở nên giàu có, thoát khỏi cảnh nghèo cùng, đói khát.

Tự lực và tha lực của hành giả Tịnh môn cũng như vậy. Trong hiện đời, nếu tự thân đoạn trừ hết nghiệp hoặc, nhận ra “tự tính Di Đà”, “duy tâm Tịnh độ” thì lập tức bước lên ngôi Vô thượng Đẳng chính giác (như đứa trẻ thứ nhất tự mình gạn lọc bùn đất để có viên minh châu). Còn trường hợp bản thân không đủ sức để đoạn trừ nghiệp hoặc trong một đời thì phải biết nương nhờ vào tha lực của Phật A Di Đà mới mong thoát khỏi sinh tử và thành tựu quả vị bồ-đề (như đứa trẻ thứ hai phải nhờ sự trợ giúp của bác phu xe, sau đó mới tìm được viên minh châu).

Nghiệp tận, tình không thì rời xa được sinh tử luân hồi. Dù nghiệp chướng còn sót lại bằng mảy may cũng không thể ra khỏi sinh tử huống chi còn nguyên vẹn. Dùng tuệ giác để suy xét, chúng ta dễ dàng nhận thấy, trong một đời không thể đoạn hết tất cả phiền não tham, sân, si… Điều này đồng nghĩa không thể ra khỏi sinh tử trong kiếp hiện tại.

Nương vào tha lực của Phật A Di Đà để sinh sang thế giới Tịnh độ là con đường tắt, ngắn nhất để viễn ly cái khổ sinh tử trong một đời. Nói thế không có nghĩa là bản thân không nỗ lực tu hành, chỉ biết trông chờ vào tha lực của Phật.

Thực sự, Phật A Di Đà không quan tâm chúng ta còn phiền não hay đã hết phiền não, trì niệm hồng danh của Ngài nhiều hay ít, Ngài tiếp dẫn tất cả những người có lòng tin và nguyện vọng sinh sang thế giới Cực Lạc bằng quang minh của mình một cách bình đẳng, vô phân biệt.

Điều kiện cần để nhận được từ lực của Phật là phải đạt được sự trong sáng và tĩnh tại nơi tâm hồn. Nhưng ở mức độ nào? Hành giả phải phục được phiền não, tức là chế ngự phiền não, làm cho nó “ngủ yên”, không còn khả năng quấy nhiễu nữa. Rõ ràng, trên bước đường tu tập tha lực và tự lực phải song hành, trong tự lực cần có tha lực và ngược lại. Ngoài ra không thể thiếu ba điều cơ bản của pháp môn Tịnh độ là đức tin bền vững, nguyện vọng vãng sinh và trì niệm hồng danh. Nếu không đạt được tiêu chuẩn này thì con đường viễn ly sinh tử trong đời này đã khép lại.

A Di Đà Phật. Hãy thận trọng và tinh tấn!

“Không phân biệt cỏ, hoa
mưa mùa buông rải hạt
huyền diệu A Di Đà”.
(Thơ Đông Tùng)

Xây dựng đức tin vững bền
“Một niệm Di Đà
Đức tin bền vững
Cõi lòng nở hoa”.
(Thơ Đông Tùng)

Đức tin là điều then chốt của người tu Phật nói chung và của hành giả Tịnh độ nói riêng. Với hành giả Tịnh độ, nếu thiếu đức tin thì sẽ không thành tựu việc rời khỏi sinh tử, vãng sinh thế giới Cực Lạc trong đời này.

Trước hết, tin nơi bản thân mình. Mỗi người chúng ta đều có đầy đủ đức năng và tuệ giác như chư Phật, chỉ cần “đánh thức” nguồn năng lượng nhiệm mầu này thì công đức viên mãn. Phật A Di Đà có vô lượng thọ quang thì chúng ta cũng có vô lượng thọ quang nhưng chúng ta không phát huy được diệu dụng và trôi mãi trong dòng sinh tử là do chúng ta chưa đoạn trừ hết vô minh, phiền não. Từ nay, chỉ cần chuyển mê thành giác, chuyển phiền não thành bồ-đề thì lập tức bước vào Niết-bàn, bước vào Tịnh độ.

Thứ hai, tin vào bản nguyện độ sinh của Đức A Di Đà và Thích Ca Mâu Ni. Tịnh độ là cánh cửa phương tiện mầu nhiệm mà Đức Phật A Di Đà mở ra nhằm tiếp độ tất cả những người tu Phật có nguyện vọng sinh về cõi nước của Ngài. Bằng nguyện lực, bi lực và trí lực, Phật A Di Đà đã kiến thiết thành tựu thế giới Cực Lạc, nó như một hóa thành bền vững và có đầy đủ phương tiện cho những ai muốn tiến về Phật đạo. Nếu Đức Thích Ca không vì lòng từ mẫn giới thiệu về thế giới Cực Lạc thì chúng ta không cách gì biết được cõi nước của Phật A Di Đà.

Thứ ba, tin nhân quả. Tin rằng mỗi một niệm A Di Đà đều là hạt nhân trong sạch để tạo thành Phật quả. Cho dù thực hành với tâm an định hay tâm tán loạn cũng đều kết thành quả vị hoa sen ở thế giới Cực Lạc.
Thứ tư, tin sự hiện hữu của Phật A Di Đà và sự tồn tại của thế giới Cực Lạc. Bản kinh A Di Đà trình bày rất rõ, thế giới Cực Lạc tọa lạc cách thế giới Sa-bà của chúng ta 10 muôn ức Phật độ về phía Tây và người làm Giáo chủ là Đức Phật A Di Đà. Ngài đã thành Chính giác cách nay đã 10 kiếp và hiện tại đang nói pháp ở thế giới của mình.

Thứ năm, tin muôn pháp từ tâm sinh. Tâm địa chúng sinh là kho tàng chứa đựng muôn pháp, muôn pháp trong vũ trụ này đều từ tâm sinh ra, không pháp nào tồn tại ngoài tâm. Phật cũng trong tự tâm chúng sanh, tâm chúng sinh hàm chứa bản chất Phật. Vì vậy, tuy thế giới Cực Lạc là do tịnh tâm của Phật A Di Đà hiện thành nhưng lại là duy tâm Tịnh độ, là tâm địa trong sạch của mọi người, còn A Di Đà chính là thể tính sáng suốt của chúng ta.

Hướng về Tịnh độ, trì niệm hồng danh A Di Đà là hướng về tự tính, niệm tưởng tự tính. Còn sinh về thế giới Cực Lạc tức trở về tâm địa của mình chứ không phải ở đâu khác:

“Mỗi niệm thấy tính, thường hành bình đẳng thì chỉ trong khoảng khảy móng tay liền thấy Đức A Di Đà… Ngộ được pháp vô sinh tức đến Tây Phương Cực Lạc”. (Lục Tổ đàn kinh)

Đức tin cần phải được xây dựng trên nền tảng năm điều vừa kể trên. Đây là yếu tố quan trọng thứ nhất quyết định thành tựu việc vãng sinh. Về mặt lý luận, phân chia thành từng phần nhưng trên thực tế chỉ có duy nhất một đức tin mà thôi.

Pages: 1 2

Comments are closed.