Năm Lời Khuyên Dạy Về Thiền Định Bằng Hành Động

Dầu sao đối với cấp bậc trên đây, người ta chưa có thể bảo rằng đấy là đã bắt đầu tu tập đúng theo “nền giáo huấn đặc thù của Đức Phật”! Bởi vì đấy chỉ là những gì giúp ý thức được cái xấu do các hành động thông thường của ta tạo ra và hậu quả do những hành động ấy mang lại, tức là các ” nghiệp xấu”. Cũng không phải vì thế mà các thứ ấy tượng trưng cho một sự cấm đoán hay một phán lệnh phải tuân thủ một cách mù quáng, bởi vì hành động “tránh” đã xuất phát từ sự lý luận và suy nghĩ, và mỗi người đều có thể tự mình thực hiện được việc ấy. Ngoài ra vào cấp bậc này thì cũng chưa nhất thiết cần phải chủ động và giới hạn các loại “tư duy xấu” (trong tâm thức)… mà chỉ cần tránh không được phép làm các việc xấu (trong cuộc sống thường nhật), có nghĩa là không được thực thi các hành động có thể mang lại khổ đau cho người khác. Tóm lại không cần phải là một Phật tử mới biết hành động như thế: đấy chỉ là thái độ hành xử đúng với lương tri!

“Gieo trồng” hay “Làm việc lành”: đấy là cách luyện tập tâm thức

“Nên làm điều lành” (kusala) đấy là lời khuyên dạy giúp người Phật tử bước thẳng vào việc tu tập. “Ngũ Giới” tự nó đã là một phép tu tập tâm linh đích thật:

“Tôi xin hoàn toàn xả thân (samâdiyâmi) vào việc tu tập căn bản (sikkhâpadam) hầu không còn tìm thấy sự thích thú trong việc…(veramanî).

Khi xướng lên những lời đó, người Phật tử tự hứa sẽ từ bỏ lối sống tầm thường trước đây của mình, một cuộc sống chỉ biết chạy theo sự “thích thú”. Sự chú tâm và động cơ thúc đẩy của người ấy không còn hướng vào cái thế giới Ta-bà “tầm thường” này nữa: người ấy đã nhìn thấy các thứ hiểm nguy và hiểu được “những lợi ích của việc dứt bỏ” thế giới này (xin chú ý vào giai đoạn này người tu tập đã vượt được cấp bậc tu giới trên đây và đang bước vào giai đoạn tu định).

Vào cấp bậc này, không còn chuyện phải quan tâm “tránh không được làm cho người khác phải…” mà phải dồn mọi nỗ lực của mình để quan sát với một sự chú tâm cao độ vào các mục tiêu của mình: những thứ dục vọng nào đang phản ảnh trong từng cử chỉ của mình? Có phải tôi đang là một món đồ chơi vô ý thức cho sự tham lam (lobha), sân hận (dosa), xao lãng (moha), tức là ba thứ Nọc độc của tâm thức hay không? Từng hành động trong cuộc sống thường nhật của tôi (mỗi cử động, mỗi lời nói và mỗi tư duy) đều phải trở thành một đối tượng cho sự quan sát và cảnh giác của tôi:

– cầu xin cho sự tham lam biểu lộ bằng sự chiếm hữu của cải vật chất [giới luật thứ 2 (adinn’âdânâ): tức chiếm hữu những gì người ta không cho mình], không còn xảy đến với tôi nữa.

– cầu xin cho sự thèm khát vô độ nhằm làm thỏa mãn các giác cảm của tôi – dù đấy là sự thèm khát tính dục, thăm ăn hay bất cứ những thứ “thích thú giác cảm” nào khác – bằng bất cứ cách nào, kể cả các cách khéo léo (khôn ngoan, kín đáo) nhất [giới luật thứ 3 (kâmesu micchâ-câra): tức các con đường “lệch lạc” (méo mó) của thích thú giác cảm], không còn xảy đến với tôi nữa.

– cầu xin cho sự ham thích nhằm nâng cao giá trị của mình bằng cách kể chuyện khôi hài hay tài hùng biện của tôi [giới luật thứ 4 (musa-vâdâ): tức các lời nói không thích nghi], không còn xảy đến với tôi nữa.

– cầu xin cho sự sân hận phát lộ bằng bạo lực đối với chúng sinh [giới luật thứ 1 (pânâtipâtâ): tức hành động bạo ngược đối với các chúng sinh hàm chứa sức sống] không còn xảy đến với tôi nữa.

– cầu xin cho sự nói dối hay vu khống [giới luật thứ 4 (vasa-vâdâ): tức các lời nói không thích nghi], không còn xảy đến với tôi nữa.

– cầu xin sự xao lãng (phân tâm) vì sử dụng các chất độc hại khiến tôi “đánh mất sự tự chủ” [giới luật thứ 5 (surâ-meraya-majja): tức dùng rượu mạnh và các thức uống khác làm say sưa tạo ra sự hoang mang], không còn xảy đến với tôi nữa.

Những gì trên đây là cách “gieo trồng” trong tâm thức các hạt giống tốt của sự chú tâm và quán thấy. Những gì “hữu hiệu” (kusala – điều lành) theo đúng với nguyên nghĩa của nó là những gì được thực thi bởi “một người hiểu biết”, tức là một Phật tử đã từng được “học hỏi”, đã từng được “nghe giảng” về những lời giáo huấn của Đức Phật, biết quý trọng những lời giáo huấn ấy, biết ghi khắc những điều ấy trong tâm, biết đem ra để đối chiếu với các sự kiện bên ngoài, biết nghiền ngẫm ý nghĩa và chấp nhận những lời giáo huấn ấy (cách trình bày này được dựa vào kinh Canki-sutta). Một người Phật tử như thế sẽ tách ra khỏi đám nông dân được xem như “những người còn đầy tham vọng, ước mơ, dự kiến…”. Người Phật tử ấy bắt đầu nhìn thấy sự ích lợi trong việc cố gắng “luyện tập, quán xét các sự kiện và phát động lòng hăng say” (Kinh Canki-sutta).

Dầu sao thì sự hiểu biết đó (pannâ/prajnâ) vẫn còn rất là “thế tục”, liên hệ đến cách suy nghĩ mang tính cách trí thức như: phán xét, cân nhắc, phân biệt…, tức là cách “tìm hiểu nguồn gốc” (đây cũng là nghĩa từ chương của chữ pannâ/prajnâ – bát nhã) làm phát sinh ra các hành động của mình, và các động cơ đích thật đã thúc đẩy mình, một cách “đúng như thế”. Người Phật tử ấy luyện tập để không còn tự nhận diện mình là các hiện tượng ấy: “Cái này không phải là tôi, không phải cái của tôi, không phải cái ‘Ngã’ của tôi”, bởi vì đấy chỉ là các tư duy như thế, các hành động như thế, các ngôn từ như thế, chúng chỉ là các hậu quả phát sinh từ nhiều điều kiện đã có từ trước (kamma/karma, nghiệp), liên kết với nhau để hình thành, sở dĩ những thứ ấy phát hiện trở lại chỉ vì chính mình không đủ sức phát huy được sự cảnh giác và quán thấy…

Luyện tập bằng cách tuân thủ “các giới luật” (ngũ giới) như trên đây một cách toàn vẹn và hoàn hảo vượt hẳn lên trên tính cách đơn giản của “những giới cấm” (tức không được phạm vào việc này hay việc nọ…) mà rõ ràng đấy là “sự phát huy” (bhavanâ) những phẩm tính của tâm thức mà trước đây ta không hề chú ý đến chúng. Đấy là cách “thiền định” (“meditation”) bằng hành động (xin chú ý là chữ “thiền định” – “meditation” – trong trường hợp này phải được đặt giữa hai ngoặc kép…), bởi vì cách “thiền định” ấy được đem áp dụng vào các “hành động” của tôi trong cuộc sống thường nhật. Cách “thiền định” đó còn có thể vượt xa hơn cả giai đoạn chuẩn bị (sơ khởi) cho việc luyện tập bằng tư thế ngồi tĩnh lặng, bởi vì cách “thiền định” tích cực (bằng hành động) có thể tạo ra những ảnh hưởng tác động thật sâu vào cuộc sống thường nhật: có nghĩa là các giới luật khi đã được hiểu chính xác và đem ra áp dụng đúng đắn sẽ là một cách phát huy tâm thức vượt xa hơn cả phép luyện tập bằng cách ngồi yên một chỗ…, và đấy cũng là một cách phát lộ trong từng giây phút một (tức mang tính cách liên tục không như cách thiền định chỉ thực hiện trong những lúc ngồi yên) sự dấn thân của ta trên Con Đường Trung Đạo – giúp cho ta tránh khỏi phải “lang thang” như một người mù trong thế giới ta-bà này [danh từ samsâra (ta-bà) phát xuất từ động từ samsarati và nguyên nghĩa của chữ này là đi hay bước mà không biết là mình đang bước đi đâu].

“Tưới” hay “Tinh khiết hóa tâm thức”: đấy là cách luyện tập trí tuệ

Trong giai đoạn cuối cùng người Phật tử phải nỗ lực và kiên trì “tinh khiết hóa tâm thức” mình. Tuy nhiên đấy cũng chỉ tương tự như trường hợp của người nông dân tuy chăm lo vun xới thửa ruộng của mình thế nhưng không “có một quyền lực nào hay một sức mạnh nào [để bảo rằng]: ‘Những gì tôi gieo trồng phải mọc lên trong ngày hôm nay, phải đơm hạt vào ngày mai, và phải chín vào ngày hôm sau…”. Người Phật tử tuy nỗ lực và kiên trì thế nhưng không phải vì thế mà có ngay một quyền lực hay sức mạnh nào [để bảo rằng]: “Bằng sự buông xả (tức không bám víu) tâm thức tôi phải được tẩy uế khỏi mọi ô nhiễm vào ngày hôm nay, ngày mai hay ngày hôm sau”. Phải đủ thời gian cần thiết để tâm thức có thể loại bỏ được mọi ô nhiễm”.

“Một người nhờ vào sự tập luyện kiên trì về phép buông xả, thì một ngày nào đó sẽ “tự mình quán nhận được hiện thực trong một cấp bậc cao thâm nhất, người ấy nhờ vào sự hiểu biết có thể đi sâu vào từng khía cạnh của hiện thực và nhìn thấy được chính nó. Tuy nhiên, ngay cả trong cấp bậc này, dù đã phát lộ được sự hiểu biết – hay sự nhận thức – về hiện thực, thế nhưng vẫn chưa đạt được sự thực hiện hiệu quả (trực tiếp) về hiện thực (…). Sự thực hiện về hiện thực chỉ có thể đạt được bằng cách lập đi lập lại, phát huy và luyện tập kiên trì quá trình tu tập như trên đây” (Kinh Canki-sutta).

Sự thực hiện đó chỉ xảy ra “khi nào thời gian đã đến” và được gọi là “Mở mắt để nhìn thấy Đạo Pháp” (tức nhìn thấy hiện thực) hay còn gọi là “Bước vào Dòng Chảy” (có nghĩa là đạt được sự hiểu biết về bản chất của hiện thực “là như thế”, tức bước vào sự hiểu biết siêu việt về bản chất đích thật của các vật thể). Sự thực hiện ấy sẽ biến một Phật tử bình dị trở thành một Phật tử Cao Quý (ariya/arya – thánh nhân). Người ấy đạt được một sự hiểu biết “siêu-thế-tục” tức trí tuệ (pannâ/prajnâ) đúng với ý nghĩa cao siêu nhất của thuật ngữ này – tức không phải là sự vận hành đơn giản của lý trí giúp quán xét các xung năng của “nghiệp” – mà đúng hơn đấy là sự hiểu biết thật sự về nguồn gốc của tất cả mọi hiện tượng: tức một tổng thể gồm các điều kiện (cơ duyên) luôn luôn biến động. Sự hiển lộ của thể dạng hiểu biết “siêu-thế-tục” đó sẽ phá vỡ “sự tin tưởng vào tính cách cá thể” (cái Ngã) và giúp cho người Phật tử có thể quả quyết rằng: “Cái này không phải tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải cái “Ngã” của tôi”. Bắt đầu từ đó, người Phật tử lại tiếp tục tập luyện thêm bằng cách “lập đi lập lại, phát huy và thực hành quá trình đó”, đúng theo những gì được nêu lên trong “Con Đường gồm Tám Nhánh (Bát Chánh Đạo) của những người Cao Quý”.

“Ngũ giới” cũng được nói đến trong Bát Chánh Đạo, thế nhưng lại được trình bày bằng ba tên gọi khác nhau là: hành động đúng, ngôn từ đúng và phương tiện sinh sống đúng (chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mệnh). Tĩnh từ “đúng” (samma/samuak – chánh) cũng được dùng để chỉ một vị Phật “hoàn toàn viên mãn” (samma/samyak-sambuddha, Tam Miệu Tam Phật Đà hay Chính đẳng Giác Phật). Tóm lại cấp bậc này vượt rất xa so với cách giữ giới chỉ gồm có việc “tránh” (tức “không được làm”)…, hoặc với cách quan sát các mưu tính (tác ý) trong tâm thức của mình…

Trong cấp bậc này, ta bắt đầu biết sống và ý thức được từng hành động mà mình thực thi và xem đấy là một cách phát lộ sự xả-bỏ (không bám víu), không-xác-định (không diễn đạt) gì cả xuyên qua từng hành động, ngôn từ và tư duy của mình. Trong từng khoảnh khắc một, “người biết luyện tập” luôn đem ra sử dụng sự chú tâm và sự quán thấy của mình, không còn để lại trong tâm thức một một khoảng trống nào (một chút sơ hở nào) khiến cho ảo giác có thể tạo ra sự “tin tưởng về các đặc tính cá thể” (cái Ngã). Và khi nào thời gian đã đến, thì sự thực hiện hữu hiệu về hiện thực sẽ hiển hiện ra. Đấy chính là sự Giải Thoát: tức “những gì phải thực hiện đã được thực hiện, không có gì còn lại để thực hiện nữa”, cách phát biểu trên đây là dựa vào kinh sách. Và đấy cũng gọi là “tiếng rống của con sư tử”, tức tiếng thét vang của người Phật tử khi nhận thấy mình không còn gì để phải luyện tập nữa, và từ đây mình đã trở thành “người không còn luyện tập gì nữa cả” (a-sekha)!

Vài lời ghi chú

Trên phương diện “trình bày” thì chúng ta có thể nhận thấy bài viết gồm có hai phần. Phần thứ nhất cho biết việc tu tập Đạo Pháp gồm có hai khía cạnh: hoặc hướng vào tâm thức tức là phép thiền định bằng cách ngồi yên, hoặc hội nhập với thế giới này bằng cách giữ giới, quan sát và phân tích từng hành động thật nhỏ của mình. Trong phần thứ nhất này tác giả cũng định nghĩa thêm về thiền định và cho thấy việc sử dụng một số thuật ngữ kém chính xác có thể tạo ra một vài khó khăn nào đó. Trong phần thứ hai thì bài viết nêu lên và giải thích về phép tu tập bằng hành động và sự thăng tiến tuần tự từng giai đoạn một của cách tu tập này.

Trên phương diện “kỹ thuật” thì tác giả không dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mình mà chỉ trình bày thật khéo léo những gì nêu lên trong kinh sách, bằng những thuật ngữ trong kinh sách. Cách trình bày thật cô đọng, chính xác và hết sức uyên bác, khác hẳn với một số bài viết và băng đĩa chỉ dựa vào một vài khái niệm sơ đẳng hoặc căn bản trong Đạo Pháp để khai triển “tràng giang đại hải” bằng những kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân, phản ảnh ít nhiều cái Ngã của mỗi người, đấy là chưa nói đến những vi phạm vào giới luật “chánh ngữ” dù chỉ là vô tình. Sau đó thì “ký tên”, có khi còn kèm thêm cả chức vụ, bằng cấp làm “râu ria” để trang trí thêm cho cái tên của mình, và không hề ý thức rằng đối với một người Phật tử chân chính thì ngay cả cái tên mà cha mẹ đặt ra cho mình dù có thật kêu đi nữa, thì cũng chẳng mang một ý nghĩa gì cả. Ký tên đôi khi cũng chỉ là một cách nhận chịu trách nhiệm về những gì mình viết thế thôi. Bài viết trên đây tuy rất uyên bác thế nhưng không thấy “ký tên” và chỉ được xem như một tài liệu học tập của Đại học Phật giáo Âu Châu.

Trên phương diện “nội dung”, thì bài viết khai triển khía cạnh tu tập bằng hành động và cho thấy cách tu tập này cũng hữu hiệu ngang hàng như phép ngồi thiền, tất nhiên là với điều kiện phải thăng tiến tuần tự theo ba cấp bậc: tu giới, tu định và tu tuệ, tương tự như một người nông dân chuẩn bị thửa ruộng, gieo trồng, chăm bón và gặt hái. Tuy nhiên bài viết cũng cảnh giác người tu tập không phải vì thế mà có thể bảo rằng: “…tâm thức tôi phải được tẩy uế khỏi mọi ô nhiễm vào ngày hôm nay, ngày mai hay ngày hôm sau”, cũng như người nông dân không có quyền lực hay sức mạnh nào để có thể bảo rằng: “Những gì tôi gieo trồng phải mọc lên trong ngày hôm nay, phải đơm hạt vào ngày mai, và phải chín tới vào ngày hôm sau…”. Đấy cũng là cách mà bài viết nhắc nhở chúng ta một cách kín đáo là phải kiên trì, vì phép thiền định bằng hành động có thể đòi hỏi một thời gian tập luyện “lâu dài” hơn là phép thiền định bằng tư thế ngồi yên.

Dầu sao thì cứu cánh của Đạo Pháp lúc nào “cũng chỉ có một vị mặn duy nhất” đấy là sự Giải Thoát bằng Trí Tuệ. Dù luyện tập bằng cách ngồi yên hay bằng hành động thì cũng đều phải đưa đến Trí Tuệ. Thật vậy chúng ta không nhìn hiện thực đúng với bản chất của nó mà chúng ta chỉ nhìn hiện thực xuyên qua những xung năng và dục vọng trong tâm thức của mình. Chúng ta có xu hướng phóng lên hiện thực và áp đặt cho hiện thực những ý đồ và tham vọng của mình, tức những gì phản ảnh tâm thần của chính mình. Do đó chúng ta nghĩ rằng đang nhìn thấy hiện thực, thế nhưng thật ra thì chúng ta chỉ nhìn thấy những ảo giác của hiện thực, nói cách khác là chúng ta nhìn thấy các tham vọng và bám víu cũng như sự ghét bỏ của mình và cho đấy là hiện thực. Tóm lại chúng ta nhìn hiện thực dưới các góc cạnh khác nhau như thích thú, ghét bỏ, v.v.., thế nhưng hiện thực “là như thế”, tự nó không hàm chứa các đặc tính ấy, chúng ta cắt hiện thực ra làm nhiều mảnh và gán cho mỗi mảnh một đặc tính phù hợp với các xung năng và xu hướng trong tâm thức mình.

Trí tuệ giúp chúng ta vượt lên trên những sự méo mó đó để nhìn thấy bản chất đích thật của mọi hiện tượng. Thực hiện được Trí Tuệ để quán thấy những thứ ấy một cách trực tiếp bằng trực giác là cứu cánh của sự luyện tập, hoặc bằng phép thiền định ngồi yên hoặc bằng phép thiền định hành động. Xin mạn phép đưa ra một thí dụ đơn giản và cụ thể như sau, một người tu tập bước vào con đường đưa đến Trí Tuệ, người này có hai cách để xác định vị trí cũng như các điểm chuẩn để định hướng cho mình trên con đường đó: hoặc nhìn sang bên phải để tìm các điểm chuẩn thiên nhiên chẳng hạn như núi đồi, cây cỏ, thung lũng, sông ngòi…, hoặc nhìn sang bên trái và dựa vào nhà cửa, chợ búa, cầu cống, xe cộ, người qua lại, sự sinh hoạt… để định hướng. Thế nhưng bằng cách này hay cách khác thì người tu tập cũng phải tìm thấy hướng mà mình phải bước theo và tiến lên từng bước một để đến gần hơn với Trí Tuệ. Nếu sau một thời gian tu tập, có thể lâu hay mau, vài năm hay hàng chục năm, và khi nhìn sang bên mặt thì ta vẫn chỉ thấy toàn hùm beo, rắn rết, hố sâu và rừng rậm, hoặc nhìn sang bên trái thì cũng vẫn chỉ thấy các cảnh cướp giật, lường gạt, đâm chém, súng đạn, nhà cháy, cầu sập…, thì có nghĩa là chúng ta vẫn còn quẩn quanh và lang thang trong thế giới ta-bà. Tập luyện bằng cách ngồi yên hay bằng hành động thì đều phải luôn nhìn lại xem mình có tiến được bước nào hay chưa, và xem mình đã có đủ sức để gầm lên như một con sư tử hay không? Đấy là cách giúp cho một người tu tập ý thức được là mình có đi sai đường hay không.

Bures-Sur-Yvette, 08.12.11

Nên chọn thiền định hay chọn hành động?
Tài liệu giảng dạy của Viện Đại Học Phật Giáo Âu Châu
(http://www.bouddhismes.net/node/725)
Hoang Phong chuyển ngữ

This entry was posted in Tùy Bút. Bookmark the permalink.