Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa V


Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa V – Diệu Quáng Tư Tưởng – Bài I Diệu Quán Khái Luận

Kệ Tán

Giáo Lý Tịnh Độ được truyeèn ra,

Tán dương Chánh Giác Phật Di Đà,

Tây Phương diệu dược chứa trong ấy,

Tham học đọc tụng liền nở hoa.

o0o

Đọc một, hai lần trần niệm tiêu,

Ba, Bốn tình nhiễm liền tan biến,

Năm, Sáu Bẩy lần được đọc qua,

Thẳng lên áo báu thành Thượng Thiện

Sở Thạch Đại Sư

___________________________________________________________________________

Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ

Khóa Thứ Năm – Diệu Quán Tư Tưởng

Mục Lục

I. Diệu Quán Khải Luận

II. Đường vào Diệu Quán

III. Chánh Nhân Tịnh Nghiệp

IV. Hành Quả Hạ Phẩm Vãng Sanh

V. Hành Quả Trung Phẩm Vãng Sanh

VI. Hành Quả Thượng Phẩm Vãng Sanh

VII. Quán Kinh Sơ Tâm Tam Muội

VIII. Tịnh Độ Cảnh Quán Yếu Môn

IX. Định Thiện Y Báo Quán

X. Định Thiện Chánh Báo Quán


 Dẫn Nhập

Bản thể của pháp thân hoàn toàn lìa khỏi danh tướng, cảnh thực của Thường tịch quang không thuộc về căn trần, chẳng phải có, chẳng phải không, ngũ nhãn không có gì chẳng thấy, chẳng phải tâm chẳng phải sắc, bốn trí từ đâu hiển bày. Tịch, chiếu trống thông, tánh chơn như tịnh diệu, muôn đức đầy đủ, một pháp không có hình. Phật tịnh thường an trụ còn không thể nói, đâu có thể kiến lập. Đây thiệt là chúng sanh và Phật lý thể vẫn đầy đủ, là nguồn gốc của vô thượng bồ đề. Lý ấy chúng sanh và Phật bình đẳng, không có cao thấp, chỉ vì chúng sanh còn mê chuyện trước mắt mà không biết, tuy có đủ pháp thân, nhưng lại vọng nhận sanh tử. Tuy ở cõi Tịch quang mà vọng chấp theo uế ác. Vì thế, Như lai rủõ lòng thương xót, nói ra rất nhiều kinh, khắp làm cho tất cả chúng sanh bỏ vọng về chơn, trở về tâm tánh. Song tự sức mình đoạn hết hoặc nghiệp, hiện đời chứng đạo, những bậc trung căn, hạ căn không thể nào thành tựu. Vì thế, có bậc Đại sĩ tên A Xà Thế dùng lòng đại bi muốn Phật khai thị phương pháp nhờ vào từ lực Phật, bỏ cõi uế về cõi tịnh, khắp làm cho các căn thượng trung hạ đều được đại pháp môn không thể nghĩ bàn là khi lâm chung được vãng sanh về cõi Cực lạc, nên ngài đặc biệt tạo ra tội đại nghịch cực ác, giết cha, cầm mẹ, làm phương tiện khởi phát, đến nỗi mẹ ngài Hoàng Hậu Vi Đề Hy, thỉnh Phật giáng lâm, nguyện rời khỏi Ta bà, nguyện sanh về Cực lạc. Lúc ấy, Đức Thế Tôn phóng hào quang từ chặn giữa hai chân mày, hiện khắp các quốc độ tịnh diệu của chư Phật. Bà Vi Đề Hy chỉ nguyện vãng sanh về Cực lạc, lại xin Phật dạy cho chúng sanh phương pháp vãng sanh, nhơn đây Phật nói Diệu Quán y báo và chánh báo, nếu người nào y theo giáo pháp ấy để tu hành, không một người nào không mãn nguyện. Không phải chỉ những người có thiện căn được lợi ích mà cả những người tạo ngũ nghịch, thập ác, khi mạng chung, tướng địa ngục hiện ra, gặp thiện tri thức, dạy xưng niệm danh hiệu Phật từ 1 tiếng đến 10 tiếng cũng được nhờ từ lựïc của Phật mang nghiệp vãng sanh. Thực có thể gọi là Đại pháp luân chuyển phàm thành thánh, xướng Đại pháp môn bản hoài của Phật. Năng lực pháp môn vượt khỏi một đời thuyết giáo, nếu Đức Như Lai không mở pháp môn nầy, thì chúng sanh đời mạt pháp, không một ai có thể thoát khỏi bể khổ. Vì thế nên biết Phật Thích Ca và Phật A Di Đà chuyển bánh xe pháp, khởi phát tâm đại từ, vận dụng lòng đại bi, độ thoát chúng sanh. Một vị thì ở cõi uế, lấy uế làm khổ, chỉ bảo cho người nhàm chán muốn thoát ly. Một vị thì nương cõi tịnh, lấy thanh tịnh làm vui, nhiếp hoá người mau trở về. A Xà Thế Vương là người tán trợ, làm cho pháp môn nầy được phát dương, đặc biệt làm ra những việc ác nghịch để thành tựu việc xa lìa nhàm chán uế độ, để bà Vi Đề Hy quyết lòng cầu sanh về Cực lạc, làm cho Thế Tôn của 2 độ ý nguyện viên thành, một nghịch một thuận làm hoá nghi để chúng sinh thời mạt pháp rốt ráo được cứu độ. Lợi ích ấy thực không thể nghĩ bàn, đây là con đường sáng thông đạt Phật đạo.

Người tu không trải qua kiếp A Tăng kỳ mà chứng được pháp thân, chỉ có môn Diệu Quán nầy là cứu cánh. Pháp môn Diệu Quán là pháp môn dùng tâm nầy làm Phật, tâm nầøy là Phật. Bởi vì Phật và chúng sanh cứu cánh không hai thể. Nếu cứ như thế tin tưởng thực hành, tuy người ấy chưa ra khỏi Ta bà, nhưng không phải là khách ở lâu nơi Ta bà, tuy chúng sanh chưa về Cực lạc nhưng đã là khách quý của Cực lạc rồi.

Pháp môn Diệu Quán nầy, ngoài giáo lý thông thường, đức Phật đặc biệt lập ra, như loại thuốc A Dà Đà, có thể trị cả muôn chứng bệnh, không luận nghiệp có nặng, nhẹ, hoặc có cạn, sâu, chỉ cần tu theo Diệu Quán nầøy không có người nào chẳng được vãng sanh, như châu ma ni tùy theo ý người sử dụng. Muốn thực hành phương pháp nầy hành giả chỉ cần thâu nhiếp sáu căn để tịnh niệm được tương tục, đến khi nghiệp tận tình tiêu, tâm và Phật là một thì tất cả pháp môn, hà sa diệu nghĩa đều dung họâi thông suốt vào tự tâm ta. Diệu quán pháp môn kỳ diệu  như thế, nên người nào muốn thấy Phật, nghe pháp, thấy cảnh y chánh trang nghiêm đều nên tu tập.

Trong Quán kinh Phật dạy: ” Thân pháp giới của chư Phật, Như Lai vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, vì thế, khi tâm chúng sanh tưởng Phật, tâm ấy có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật. Biển chánh biến tri của chư Phật đều từ tâm tưởng mà sanh, vì thế cần phải một lòng hệ niệm, quán chắc Đức Phật A Di Đà kia. Nên biết rằng quán tưởng từ pháp thân mà vào, nghĩa lý ấy thật nhiệm mầu, tâm là Phật, tâm làm Phật gốc vẫn bình thường, bình thường lại phi thường, sâu xa mà chẳng phải sâu xa, như thế mới có thể viên ngộ, mới gọi là chứng Tánh, đạt Đạo.

Trong pháp quán thứ 13, Phật đặc biệt vì độ chúng sanh căn cơ hạ liệt, nên mở cửa phương tiện bảo quán tướng Phật thân cao một trượng sáu và trong quán thứ 16 bảo những người ác nghiệp cực trọng phải xưng danh hiệu, nhờ xưng danh hiệu mà liền được vãng sanh. Nên biết tướng có đại, tiểu thừa, nhưng bản hoài của Phật chỉ có một. Nếu quán không thể thực hành nỗi, thì xưng danh hiệu sẽ có kết quả. Căn cứ vào đó để suy nghĩ, biết rằng trì danh là pháp rất thù thắng, hành giả sanh trong thời mạt pháp muốn được hiện đời vãng sanh, làm sao không coi việc trì danh làm quý trọng.

Từ ngày phương pháp Diệu Quán đến Trung Hoa, các Tổ như Thiên Thai Trí giả Đại Sư, Thiện Đạo Đại Sư, Thanh Lương Đại Sư, Linh Chi Đại Sư đều có làm chú sớ, trong đó có quyển Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ của Đại Sư Thiện Đạo chú giải tinh tường để hành giả dễ dàng nhập Diệu quán. Đặc biệt phương pháp quán nầy, Tổ Thiện Đạo đã chứng được Quán Tưởng Tam Muội. Ngài nhiều lần dạo cõi Cực lạc quán cảnh rõ ràng. Người tu Diệu Quán nầy chắc chắùn hiện đời thấy Phật. Khi lâm chung sẽ được vãng sanh thượng phẩm. Để đạt thành pháp môn Diệu quán nầy, chúng ta cần phải khảo sát tường tận cảnh quán. Phải đi từ tán thiện đến định thiện, thì Diệu quán mới có kết quả mong muốn.

Tịnh nghiệp sanh về Thế giới Cực lạc là điều chư Thánh tán thán, các bậc hiền đều tôn sùng, vì thế, ngài Văn Thù, ngài Di Lặc nguyện sanh, ngài Long Thọ, ngài Thiên Thân đều thệ đến. Các bậc Thánh Hiền còn như thế, huống là những kẻ mông học như chúng ta mà chẳng muốn sanh về sao? Muốn được về cõi Cực lạc thì Diệu quán là một trong những phương pháp niệm Phật cao nhất. Diệu quán nầøy phát nguyên khi Đức Phật còn tại thế, ngài cùng Đại chúng đang ở núi Kỳ Xà Quật thành Vương Xá do Hoàng Hậu Vi Đề Hy khải thỉnh mà nói ra pháp quán mầu nhiệm nầøy. Trong Diệu Tông sao nói: “Phương pháp nầøy lấy tâm quán làm tông, thật tướng làm thể, mượn cảnh quán thật tướng, tướng Phật hiện bày, toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, suốt ngày quán tâm, suốt ngày quán Phật. ” Phương pháp nầy vô cùng mầu nhiệm, vì khi quán thì “Tâm ấy là Phật, Tâm ấy làm Phật”. Nó có công năng tối thắng là hành giả không gặp thời Phật ra đời mà thường được thấy Phật nghe pháp làm lòng tin thêm kiên cố, không cần trải qua nhiều kiếp mà được mau giải thoát, không dứt sạch hoặc nghiệp mà thoát khỏi luân hồi và không cần tu các hạnh khác mà vẫn được các Ba la mật. Chính vì thế, Tổ Thiên Thai Trí giả Đại Sư trong Quán kinh sớ đã cho là phương pháp vô cùng mầu nhiệm và khi sắp lâm chung ngài niệm danh hiệu Quán kinh trước khi viên tịch. Đàm Loan Đại Sư là một pháp sư nổi tiếng giảng kinh, vì bệnh duyên nên tìm pháp trường sinh ở Đào Ẩn Cư. Được Đào Ẩn Cư trao cho mười quyển kinh tiên, giải thích thuật trường sanh bất tử. Đại sư trên đường trở về gặp Sư Lưu Chi người Ấn hỏi: “Ngài ôm kinh gì mà có vẻ hớn hở như thế?” Đại Sư đáp: “Thuật trường sinh bất tử”. Sư Lưu Chi bảo: “Thuật bất tử chỉ trong nhà Phật mới có mà thôi. Nói rồi trao cho Đại Sư Đàm Loan quyển Quán Kinh. Đại Sư Đàm Loan xem xong khen rằng: “Muốn bất tử chỉ tu có phương pháp nầy!” Đoạn đem hết mười quyển kinh tiên ra đốt và quyết tâm tu Diệu quán.

Qua lời tường thuật trên, ta thấy Diệu Quán quả là một phương pháp kỳ diệu liễu sanh thoát tử mà từ nghìn xưa Cổ Đức đã trân trọng. Để hiểu rõ Diệu quán nầy chúng ta cần phải biết rõ chủ trương đường lối, kinh điển y cứ, phương pháp tu hành và kết quả tu chứng. Có hiểu rõ như thế thì việc hành trì, Quán tưởng tam muội mới có kết quả chắc chắn.

Chánh Đề

I. Nhận định

Quán là phương pháp dùng trí huệ quán tưởng hay quán chiếu để trụ tâm. Trong giáo pháp của Đức Phật dạy có nhiều pháp quán. Tóm lại có 5 pháp chánh yếu:

Tổng quán các pháp: Phương pháp nầøy quán chiếu thấy tất cả các pháp đều không.

Biệt quán tự tâm: Phương pháp nầy quán chiếu để tâm an như các pháp chỉ quán, hoàn nguyên quán, pháp giới quán, tịnh tâm quán…

Sắc quán: Phương pháp nầy quán thật tướng của thân như quán bất tịnh, quán bạch cốt…

Sắc tâm quán: Phương pháp nầy quán chiếu suốt năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới đều không.

Đối thắng cảnh quán: Phương pháp quán Phật, Bồ tát, y chánh trang nghiêm. Trong năm món trên đây Diệu quán là cảnh quán tối thắng.

Nói một cách tổng quát, quán có hai thứ là quán chiếu và quán tưởng. Quán chiếu có nghĩa là soi xét cặn kẻ để tìm ra sự thực, như người mê đắm về sắc thân, dùng trí huệ quán chiếu thấy nó chỉ là một đống máu mủ dơ bẩn, hôi thối, sanh lòng nhờm gớm, làm tâm không còn thấy mê đắm khi sự thật hiện bày. Quán tưởng là lấy cảnh tưởng để trụ tâm như người quán tưởng tượng Phật, Bồ tát, tâm ý phải buộc vào cảnh quán, tâm lắng ở một chỗ nên vọng tưởng bị dừng trụ và biến mất. Người chưa giác ngộ gọi là thức, giác ngộ rồi gọi là trí, mà quán tưởng là phương pháp chuyển thức thành trí. Vì sao quán tưởng lại có thể chuyển thức thành trí? Vì khi tâm quán tưởng Phật A Di Đà, tâm an trụ ở Phật nên vọng thức lần tiêu, chỉ còn lại có trí huệ. Người bị vọng thức chuyển thì tâm tưởng luôn luôn ở cảnh giới phàm phu, người quán tưởng Phật thì cảnh giới phàm phu chuyển thành cảnh giới Phật. Chỗ nhiệm mầu của quán tưởng là chuyển thức thành trí, chuyển cảnh phàm thành cảnh thánh. Đó là chỗ rất thù thắng nên gọi là diệu quán.

II. Chủ trương và đường hướng

1- Chủ trương:

Hoài bảo của Đức Thế Tôn là muốn chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi. Muốn thoát khỏi sanh tử, hành giả phải giữ được tâm định để từ đó bỏ trần theo giác. Nhưng vì tâm chúng sanh luôn luôn lay động, ý như ngựa dong rủi, tâm như vượn chuyền cây, không lúc nào ngừng. Khi dong rủi với tiền trần, tâm ý đã tạo ra vô vàn tội nghiệp, rồi cứ theo nghiệp đó mà bị lôi dẫn xuống lên trong ba cõi không lúc nào ra khỏi. Muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi, hành giả phải giữ tâm được an trụ một chỗ thì vòng sanh tử tự nhiên bị cắt đứt, nên trong kinh Di Giáo Phật đã dạy: “Cột tâm một chỗ, việc gì cũng xong”. Do đó, các tông phái trong Phật giáo bất luận Đại thừa hay Tiểu thưà đều lấy việc định tâm làm gốc, mà Quán niệm là một phương pháp then chốt để làm cho tâm được định. Vì vậy, chủ trương của Diệu quán, dùng quán tưởng y chánh trang nghiêm, diệt tội chướng, vãng sanh về Tịnh độ, dùng tâm quán tịnh, thì cõi Phật tịnh.

Quán tưởng là dùng trí huệ quán cảnh để trụ tâm. Để trói buộc con vượn tâm và con ngựa ý, hành giả chọn một cảnh quán trong 16 phép quán mà Đức Phật đã dạy trong quán kinh, rồi nhiếp tâm dừng trụ ở nơi đó. Cảnh quán như cột trụ, cột chặt vượn tâm và ngựa ý vào. Dù chúng muốn rong rủi, nhảy chuyền cũng chỉ ở chung quanh trụ cột, nên không thể tạo nghiệp, dần dần dừng trụ hẳn. Như người quán y báo cõi Cực lạc, giữ chặt tâm nơi quán cảnh, lần lần tâm an định, cảnh vi diệu sẽ hiện tiền. Tuy vậy, tâm ý vốn rất tinh tế, cảnh thô không thể trói buộc được, nên cần phải có cảnh vi tế mới làm nó an trụ hẳn. Do đó, Đức Phật dạy chúng ta tu 16 phép quán từ thấp lên cao, từ thô vào tế.

2- Đường hướng: Dùng quán tưởng diệt tội để được vãng sanh về Tịnh độ. Trong Quán Kinh Phật dạy: “Nầy Vi Đề Hy! Bà có biết chăng, Phật A Di Đà cách đây không xa. Bà nên hệ niệm, quán chắc cõi kia, tịnh nghiệp sẽ được thành tựu. Ta nay vì bà nói nhiều thí dụ, cũng làm cho tất cả phàm phu đờøi sau muốn tu tịnh nghiệp sẽ được sanh về thế giới Cực lạc ở phương Tây.” Do đó, đường hướng Diệu quán trước phải tu Tịnh nghiệp làm chánh nhân, chín phẩm làm chánh hạnh, tán thiện và mười ba pháp quán làm chánh hạnh định thiện.

Thế nào là chánh nhân tịnh nghiệp? Trong Quán kinh dạy: “Phật bảo bà Vi Đề Hy! Bà có biết chăng? Ba món Tịnh nghiệp nầy là Chánh nhơn tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Muốn sanh về cõi Cực lạc phải tu ba phước : 1- Hiếu dưỡng cha mẹ, tôn thờ sư trưởng, tâm từ không giết hại, tu tròn 10 nghiệp lành. 2- Gìn giữ ba quy y, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi. 3- Phát tâm Bồ đề, tin sâu nhơn quả, đọc tụng kinh điển đại thừa, khuyên kẻ khác tu hành.” Trong Thiện Đạo sớ nói: Người nào tu một trong ba phước nầy hồi hướng vãng sanh Cực lạc đều được vãng sanh.

Thế nào là chánh hạnh tán thiện? Hành giả sau khi đã tu chánh nhơn rồi, phát ý tu theo hạnh nguyện của chín phẩm sẽ được vãng sanh. Đây là lòng bi mẫn vô bờ của Đức Thế Tôn, không ai hỏi mà Ngài tự nói ra, muốn cho phàm phu đời sau nhờ Diệu quán nầøy mà được vãng sanh Cực lạc.

Thế nào là chánh hạnh định thiện? Chánh hạnh định thiện nầøy do Bà Vi Đề Hy xin Phật dạy cho tư duy và chánh thọ, nên Phật nói ra 13 pháp quán từ Địa quán đến Tạp tưởng quán. Người tu thành tựu pháp quán định thiện nầy thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật.

Tóm lại, đường hướng tu diệu quán là hành giả trước phải tu ba món phước làm chánh nhơn, sau đó tùy theo khả năng tu tán thiện hay định thiện đều được vãng sanh Cực lạc.

III. Kinh điển y cứ

Luận Diệu Quán Tư tưởng nầy y cứ vào kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong 3 bọâ kinh chủ yếu của Tông Tịnh độ. Kinh nầøy do Đức Thích Ca Mâu Ni lúc ở nước Ma Kiệt Đà, thành Vương Xá, núi Kỳ Xà Quật (nằm phía Đông Bắc của thành) cùng với 1250 vị Tỳ kheo và ba muôn hai ngàn vị Bồ tát cùng hội về nghe pháp và do việc trong cung đình ở thành Vương Xá làm nhơn duyên phát khởi.

Nguyên vì Thái Tử ở thành Vương Xá là A Xà Thế bị Đề Bà Đạt Đa dùng lời khích động xúi giục nên đem cha là Vua Tần Bà Ta La nhốt vào cấm ngục bỏ đói cho chết để tự mình lên làm Vua. Vương Hậu của Vua là bàVi Đề Hy sợ nhà Vua bị chết đói, nên trên thân thoa bột, trong chuỗi và mão đựng mật bồ đào, bí mật cung cấp cho vua dùng hằng ngày. Đệ tử Phật là đức Mục Kiền Liên mỗi ngày vận thần thông đến cấm ngục để thuyết pháp. A Xà Thế muốn vua Tần Bà Ta La mau chết, nên khi nghe thủ ngục cho biết mẫu hậu Vi Đề Hy và đệ tử Phật Mục Kiền Liên vào cấm ngục tiếp tế, lòng rất phẫn nộ, liền cầm gươm đến nơi định giết mẹ. Lúc ấy có 2 vị đại thần là Nguyệt Quang và Kỳ Bà khuyên ngăn A Xà Thế rằng: “Từ xưa đến nay, người vì đoạt ngôi mà giết cha rất nhiều, nhưng chưa từng nghe ông vua nào vô đạo hại mẹ. Ngày nay nhà vua làm việc vô đạo nầy, thật làm ô uế dòng họ vua chúa, có khác gì giai cấp hạ tiện, chúng tôi xin được từ biệt Ngài.” A Xà Thế bất đắc dĩ, đem phu nhơn Vi Đề Hy nhốt trong thâm cung. Sau khi bị nhốt trong thâm cung, Bà rất buồn rầu đau khổ, hướng vọng về núi Linh Thứu lễ bái thỉnh cầu Đức Thế Tôn cứu hộ. Đức Phật biết rõ tâm cầu xin của bà, liền từ núi Linh Thứu hiện thần thông đến Vương cung. Phu nhơn Vi Đề Hy hoan hỷ đảnh lễ Đức Phật xong, kể rõ ác nghịch của đứa con duy nhất đã làm cho bà lòng đau buồn vô kể và xin Đức Thế Tôn khai thị.

Đức Thế Tôn y theo chỗ mong muốn của Bà Vi Đề Hy, hiện thần thông hiển bày các Tịnh độ trong mười phương, Bà Vi Đề Hy đặc biệt chỉ chọn và mong muốn được sanh về tịnh độ Cực Lạc ở phương Tây, thỉnh cầu phương pháp quán tưởng để được vãng sanh Tịnh độ nầy. Y theo nguyện vọng của Bà Vi Đề Hy, đức Thế Tôn chỉ dạy cho 13 phương pháp quán sát y báo và chánh báo Tịnh độ trang nghiêm, gọi là quán Định Thiện. Pháp quán khai thể là Nhựt tưởng, kế đó Thủy tưởng, Bảo địa, Bảo trì, Bảo lâu, Hoa toà, Bảo tượng, Chơn thân Phật, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Phổ quán và Tạp tưởng quán, tổng cộng 13 pháp.

Đức Thế Tôn lại vì hạng phàm phu tâm tán loạn ở đời vị lai mà nói chín phẩm tán thiện là bậc thượng, bậc trung và bậc hạ. Ngài vì các căn khí đại thừa, tiểu thừa và phàm phu tạo ác nghiệp mà nói phương thức vãng sanh Tịnh độ.

Phu nhơn Vi Đề Hy khi nghe Đức Thế Tôn nói xong, liền được khai ngộ, đắc vô sanh nhẫn và năm trăm thể nữ cũng phát tâm bồ đề, cùng phát nguyện vãng sanh Tịnh độ. Tóm lại Đức Phật nói giáo lý định thiện và tán thiện là để khuyên hành giả phát nguyện vãng sanh. Bản ý của Phật hướng dẫn chúng sanh dùng xưng danh làm pháp tu hành rốt sau.

Đức Thế Tôn thuyết pháp ở Vương cung xong, liền trở về núi Linh Thứu. Thị giả A Nan đem lời dạy của Phật ở trong hội nầy vì chúng hội ở Linh Thứu mà thuyết minh một lần nữa. Như vậy hội thứ nhất gọi là Hội Vương Cung, hội sau gọi là Hội Linh Thứu. Đức Phật giảng nói ở Vương cung, A Nan trùng tuyên ở Linh Thứu không sai một lời nên gọi kinh nầy là một kinh hai hội.

Diệu quán tư tưởng nầøy lấy quán Phật tam muội và niệm Phật tam muội làm tông chỉ, lấy nhứt tâm hồi hướng vãng sanh làm thể. Do đó, pháp nầy lấy 13 pháp quán định thiện làm quán Phật tam muội, tán thiện chín phẩm làm niệm Phật tam muội. Quán Phật tam muội, Đức Thế Tôn theo lời thỉnh cầu của Bà Vi Đề Hy mà giảng nói. Như vậy pháp nầy Đức Thế Tôn tùy theo ý cầu xin của hành giả mà tuyên thuyết. Niệm Phật tam muội là Phật vìø tất cả chúng sanh phàm phu thời vị lai mà giảng nói. Vì thế, trong lời dặn dò Phật chỉ phú chúc mọi người cần niệm Phật, là muốn pháp niệm Phật được lưu thông ở đời vị lai. Do đó, ở Quán kinh, cuối cùng Phật ân cần chỉ chúng sanh phàm phu niệm Phật. Dù vậy, quán tưởng cũng là phương pháp dùng tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật, nên việc chứng quán tưởng tam muội cũng là trọng điểm của Diệu Quán.

IV. Phương Pháp tu hành Diệu Quán

1- Phát tâm Bồ Đề:

Ở đời người làm việc không có mục tiêu như thuyền không bến đỗ, trôi dạt lênh đênh không định hướng. Trái lại, người làm việc có mục tiêu rõ ràng, thì dù chậm hay mau cũng có ngày đến đích. Quả vị Bồ đề là mục tiêu chính yếu của người tu hành nhắm tới. Vì sao? Như chúng ta đã biết, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là thái tử, sau khi dạo bốn cửa thành, chứng kiến được cảnh sanh già bệnh chết, tình thương cao cả muốn cứu độ tất cả chúng sanh nổi dậy, Ngài quyết chí xuất gia tìm đạo để cứu độ. Suốt 11 năm tìm đạo và tu khổ hạnh với ngoại đạo không có kết quả, cuối cùng ngài đã tự tìm ra con đường giác ngộ, giải thoát sanh tử cho tất cả chúng sanh, đó là quả vị Vô thượng Bồ đề. Chính vì hoài bão thuở ban đầu, nên Đức Phật đã nói ra vô lượng pháp môn, nhằm mục đích dắt dẫn chúng sanh đến mục tiêu vô thượng ấy. Vì thế, người thực hành Diệu quán, trước phải vì sanh tử mà phát tâm bồ đề. Khi đã định được mục tiêu thì tất cả hành động đều nhắm về mục tiêu ấy. Như học sinh muốn có bằng cử nhơn hay tiến sĩ trong tay, thì mọi thời giờ, mọi năng lực đều nhắm vào việc học, nhiên hậu mới có thể đạt thành.

Người tu Tịnh độ, không phải vì lánh khổ tìm vui một mình, mà vì muốn vãng sanh về cõi Cực lạc để đoạn hết phiền não, học hết các pháp môn, hầu trên thành đạo bồ đề vô thượng, dưới cứu độ tất cả chúng sanh, nên phát tâm dùng diệu quán để sanh về Tây phương Cực lạc.

2- Tu chánh nhơn Tịnh độ.

Ở đời trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu, nhân nào quả nấy không sai. Trong Quán kinh, Đức Phật dạy: “Người muốn sanh về cõi Cực lạc, phải tu ba phước:

a. Hiếu dưỡng cha mẹ, tôn thờ sư trưởng, lòng nhân từ không giết hại, tu trọn mười nghiệp lành.

b.  Gìn giữ tam quy, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi.

c. Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn người tu hành. Ba phước nầy là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời.

Người tu muốn mau chứng Diệu quán phải lần lượt diệt trừ gốc rễ vọng tưởng, như người muốn đựïng đồ quý, trước phải đổ bỏ đồ nhơ, dùng tro chất tẩy chùi sạch sẽ, sau dùng nước nóng và chất thơm rửa lại, rồi sau đó mới có thể dùng đựng vị cam lồ. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay lăn lộn trong sanh tử, xuống lên ba nẻo sáu đường, không có ác nào không tạo, không có việc ô uế nào không làm. Vì thế muốn tu Diệu quán trước phải trừ các trợ duyên bên ngoài như ăn, mặc, ở, học tập cho phù hợp với hoàn cảnh tu hành. Dứt các nhơn bên trong, phải nghiêm trì tịnh giới, không sát, đạo, dâm, vọng, ngoài thân không phạm, trong tâm không động, thân và tâm đều trong sạch như băng tuyết, bằng cách dùng nguyện, tinh tấn, niệm, xảo huệ và nhất tâm để hỗ trợ. Trừ các nghiệp hiện tiền, khi tiếp xúc với trần cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt theo sáu trần, xoay các cảm giác trở về bản tâm thanh tịnh. Nhờ vậy mà ngũ dục dứt, ngũ cái tiêu, mới có thể tu hành Diệu quán.

3- Thật hành chánh nhơn tán thiện.

Trong phần tu hành được chia làm hai là tán thiện và định thiện, nếu muốn tuần tự từ thấp lên cao, chúng ta cần tu tán thiện trước rồi kế đó đi dần đến định thiện. Phần tán thiện, Đức Như Lai vì phàm phu đời sau mà nói ra, phần định thiện là do yêu cầu của đương cơ là bà Vi Đề Hy muốn cầu học pháp tư duy và chánh thọ. Để tuần tự tu tập từ thấp lên cao, chúng tôi xin trình bày phần sau trước và đổi phần trước ra sau. Chúng tôi sẽ nói về chín phẩm vãng sanh trước, có nghĩa là chúng tôi chọn phần thực hành từ pháp quán thứ 14 đến 16 trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Bậc hạ là những phàm phu tạo đủ ngũ nghịch, thập ác trọng tội thuộc về hạ hạ, phàm phu phá giới thứ tội thuộc về hạ trung và phàm phu tạo thập ác khinh tội thuộc về hạ thượng. Bậc trung là những phàm phu thế thiện thượng phước, thuộc về trung hạ,  những phàm phu tiểu thừa hạ thiện thuộc về trung trung, những phàm phu căn tánh tiểu thừa thượng thiện thuộc về trung thượng. Bậc thượng là những phàm phu đại thừa hạ thiện thuộc về thượng hạ, những phàm phu đại thừa trung thiện thuộc về thượng trung và những phàm phu đại thừa thượng thiện thuọâc về thượng thượng. Trong ba bậc chín phẩm nầøy, mỗi phẩm đều có công hạnh và kết quả khác nhau, tùy theo khả năng hành giả. Tuy có kết quả chậm mau khác nhau, nhưng người dự vào chín phẩm nầøy đều được vãng sanh về cõi Cực lạc và tu tập một đời được bổ xứ làm Phật. Vì vậy có thể nói người được vãng sanh về Cực lạc coi như được chứng quả thành Phật.

4- Thật hành chánh nhơn định thiện.

Phần định thiện nầøy do bà Vi Đề Hy cầu Phật dạy cho tư duy và chánh thọ. Người tu 13 pháp quán nầøy hiện đời được tam muội và chứng được vô sanh nhẫn. Trong Quán kinh, về pháp Quán Tượng, Phật dạy: “Pháp quán nầøy tu thành, trừ diệt tội trọng trong vô lượng ức kiếp sanh tử, ngay hiện đời hành giả chứng được tam muội.” Người chứng được tam muội là người thuần tưởng, khi lâm chung tịnh nghiệp hiện tiền, tâm nhãn mở tỏ thấy mười phương Tịnh độ chư Phật, tùy nguyện vãng sanh. Về pháp quán Hoa Toà, Phật bảo bà Vi Đề Hy: “

Ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giải nói pháp trừ khổ não”. Khi Phật vừa nói xong, liền có đức Phật Vô Lượng Thọ hiện thân đứng trên tòa sen trong hư không, Bồ tát Quán Thế Âm, và Đại Thế Chí đứng hầu hai bên. Lúc ấy, bà Vi Đề Hy được thấy, quỳ xuống lễ dưới chân Phật, vui mừng khen ngợi, liền được vô sanh nhẫn.” Người được vô sanh nhẫn là người an trụ cái lý không sanh không diệt mà không động. Tổ Long Thọ dạy: “Người chứng vô sanh nhẫn thuộc Bồ Tát địa thượng, quả vị từ địa thứ 7, địa thứ 8 và địa thứ 9 trở lên. Căn cứ vào ba a tăng kỳ kiếp thì vị nầy trụ ở kiếp cuối.

Tóm lại, phương pháp tu hành Diệu quán nầøy gồm thâu các căn, diệt hết tội chướng, vãng sanh Cực lạc. Hành giả phát tâm tu nhơn tịnh nghiệp hồi hướng cũng được vãng sanh, kẻ thực hành tán thiện dù là hàng ngũ nghịch, thập ác cũng được vãng sanh, bậc thực hành định thiện hiện tiền chứng được tam muội vào vị Bồ Tát địa thượng tùy nguyện vãng sanh. Thật là một phương pháp tu trăm người tu trăm người được vãng sanh, muôn người tu muôn người được chứng quả không sót một. Thật là cái phao cho chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ ở thời mạt pháp nầy.

V. Lợi ích

1- Dễ được vãng sanh:

Như trên đã nói người được vãng sanh về Cực lạc coi như một đời viên thành Phật quảû. Vì sao? Vì người được sanh về cõi Cực lạc có thân liên hoa hóa sanh, tuổi thọ vô lượng, chứng vào vị không lui sụt, ở trong chánh định tụ, gần Phật, bạn là Bồ tát, chim nói pháp, nước reo kinh, đầy đủ thắng cảnh, thắng duyên, chỉ có tiến mà không lùi, thì công nào không mãn, quả nào không tròn. Trong Quán kinh Tứ Thiếùp sớ, Tổ Thiện Đạo dạy: “Có người chỉ làm thế thiện hồi hướng cũng được vãng sanh; có người thực hành giới thiện hồi hướng cũng được vãng sanh; có người thực hành xuất thế thiện hồi hướng cũng được vãng sanh. Ba món phước trên là tịnh nhân mà hồi hướng cũng được vãng sanh Tịnh độ.

Trong Quán Kinh Phật dạy: “Có hạng người trong đời làm những tội cực ác như ngũ nghịch, thập ác, phạm tứ trọng tội, phá tăng, bài báng chánh pháp chưa từng hổ thẹn. Khi mạng chung các khổ tướng tụ họp, lửa dữ địa ngục hiện trước người ấy. Bỗng người ấy gặp thiện tri thức khuyên hãy gấp chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà. Hoá Phật và Bồ tát tìm tiếng xưng niệm mà đến, trong chừng một niệm, người ấy vào hoa sen báu, vãng sanh Cực lạc.” Những người tạo tội cực ác không biết ăn năn, nhưng xưng niệm danh hiệu Phật cũng được vãng sanh. Thật là một việc dễ trong muôn ngàn việc dễ làm.

2- Trừ sạch nghiệp chướng:

Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay bị trôi lăn trong vòng sinh tử, lên xuống trong ba nẻo sáu đường, phần nhiều bị nghiệp chướng nhiều đời trói buộc, dù có được giác ngộ, nhưng nghiệp chướng nhiều đời sâu dày, do đó phải theo nghiệp lôi đi. Người tu Diệu quán nầøy sẽ dứt trừ được vô biên nghiệp chướng. Trong Quán kinh Phật dạy: “Nếu người quán được pháp Địa Quán nầøy, sẽ trừ được tám muôn ức kiếp tội nặng sanh tử. Bỏ thân nầøy, đời sau chắc được sanh về Tịnh độ, tâm được vô ngại”. Trong Quán Bảo Lầu Phật dạy: “Nếu thấy tướng nầøy sẽ trừ được nghiệp ác rất nặng trong vô lượng kiếp. Khi mạng chung, kẻ ấy quyết định sẽ được sanh về cõi Cực lạc.” Trong quán Hoa toà, Phật dạy: “Pháp tưởng nầy nếu thành, sẽ diệt trừ tội chướng trong năm muôn ức kiếp sanh tử, quyết định được sanh về thế giới Cực lạc. Qua những dẫn chứng trên cho thấy, người tu Diệu quán nầy sẽ trừ sạch tất cả nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp, hiện đời nầy khi lâm chung được vãng sanh về cõi Cực lạc.

3- Hiện đời gặp Phật:

Một trong tám đại nạn của hành giả là sanh ra nhằm thời không có Phật. Đức Phật là đấng pháp vương, có thể giải quyết tất cả nghi vấn của chúng sanh, nên người gặp Phật chắc chứng được đạo quả. Trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Tổ Long Thọ dạy: “Trong thời mạt pháp cách Phật khá xa, các hàng Bồ Tát không được gần Phật, nên muốn không lui sụt quả vô thượng Bồ đề rất khó, chi bằng nguyện vãng sanh về cõi Cực Lạc Phật A Di Đà đang thuyết pháp liền chứng được vị không lui sụt”. Trong Quán Kinh Phật dạy: “Người quán tưởng niệm Phật hiện đời, đương lai sẽ được thấy Phật, không cần phương tiện, tự được tâm mở tỏ. Từ ngàn xưa, những người niệm Phật đều được gặp Phật. Đại sư Huệ Viễn ở Lô Sơn trong 11 năm gặp Phật ba lần. Ngài Pháp Chiếu một hôm niệm Phật, thầân dạo cõi Cực Lạc gặp Phật A Di Đà, đức Phật chỉ ông Tăng y rách đứng hầu bên Phật mà nói: Đây là Ông Thừa Viễn ở Hoành Sơn đấy. Khi xuất định Ngài vội đến Hoành Sơn tìm, khi gặp Ngài Thừa Viễn thời rõ ràng là ông Tăng y rách đã thấy ở Cực Lạc. Ông cư sĩ Lưu Trình Chi đương lúc niệm Phật thấy đức Phật A Di Đà hiện kim thân phóng quang chiếu mình ông. Ông liền đảnh lễ và bạch rằng: “Ngưỡng mong Đức Thế Tôn từ mẫn xoa đầu con và lấy y trùm thân con”. Rồi ông rập đầu nơi chân Đức Phật. Đức Phật liền đưa tay vàng xoa đầu ông cùng kéo y vàng phủ lên mình ông. Qua ba câu chuyện kể trên cho thấy người tu quán tưởng niệm Phật chắc được gặp Phật. Tổ Diên Thọ dạy: Đã gặp Phật Di Đà, lo gì không khai ngộ.”

Tổ Liên Trì dạy:

Chúng sanh trong thời mạt pháp cách Phật đã xa mà được gặp Phật là một điều thù thắng hy hữu”!

4- Được tam muội:

Tam muội phiên âm từ chữ Samadhi, Hán dịch là chánh định. Người tu hành thường trụ tâm ở một chỗ, không cho tán loạn, giữ gìn sự an tĩnh, trạng thái nầy gọi là tam muội. Khi đạt được tam muội liền khởi ra chánh trí huệ và khai ngộ chơn lý. Người được tam muội có thể đạt đến cảnh giới Phật gọi là đắc Phật  tam muội. Tam muội có nhiều thứ như Pháp Hoa tam muội, Thủ Lăng Nghiêm tam muội, Kim Cang tam muội, chư Phật hiện tiền tam muội, nhưng trong tất cả tam muội thì Niệm Phật tam muội được coi là vua của các tam muội.

Trong Quán Kinh đức Phật dạy: “Đây là món tưởng thứ tám, pháp quán nầy tu thành tựu liền trừ diệt tội trọng trong vô lượng ức kiếp sanh tử, ngay hiện đời hành giả chắc được Niệm Phật tam muội. Trong Quán Chơn thân Phật, Đức Phật dạy: “Hành giả chỉ nên thành kính nhớ tưởng chơn thân Vô Lượng Thọ Như Lai khiến cho tâm mắt được thấy. Thấy được tướng nầy là thấy tất cả chư Phật mười phương. Vì thấy chư Phật nên gọi là Niệm Phật tam muội. Qua những dẫn chứng trên cho chúng ta thấy, hành giả tu Diệu Quán, thành tựu pháp quán, chắc được Niệm Phật tam muội, hiện đời gặp vô lượng chư Phật, nên được chư Phật hiện tiền thọ ký. Tóm lại người tu Diệu quán nầy việc làm ít mà thành công nhiều nhờ vào lòng từ bi tiếp độ của chư Phật, nên người đang tu nhân hoặc kẻ ác nghịch biết hồi hướng về Tây phương cũng được vãng sanh. Nghiệp chướng trong vô lượng kiếp từ đây dứt trừ, như người trút được gánh nặng ngàn cân, thênh thang một mình nhẹ bước lên bờ giác, trong hiện đời gặp Phật, chứng được tam muội, thật không có phương pháp nào kỳ diệu bằng.

Tổng kết: Diệu quán pháp môn là một pháp môn vô cùng kỳ diệu, có thể nói là lòng từ bi triệt để của Phật độ cho những kẻ từ trước tới nay chưa được độ. Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đại nguyện thứ 18, đức Phật A Di Đà có nguyện: “Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh chí tâm tín mộ muốn sanh về cõi nước tôi, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sanh thời tôi không ở ngôi chánh giác, trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp.” Nhưng trong Diệu quán Hạ phẩm Hạ sanh, hàng tạo tội ngũ nghịch và bài báng chánh pháp nghe lời thiện tri thức chỉ cần 10 niệm sẽ được vãng sanh, chứng tỏ pháp môn Diệu quán độ khắp không bỏ một ai, nếu niệm Phật sẽ được vãng sanh về cõi Phật.

Thiên Thai Trí Giả Đại sư là Tổ Pháp Hoa Tông, khi sắp viên tịch, Ngài bảo kê giường hướng về Tây phương rồi chuyên niệm A Di Đà Phật. Ngài bảo thị giả xướng to danh đề: Quán Vô Lượng Thọ Phậât kinh. Xướng đề kinh xong, Ngài tán thán rằng: “Bốn mươi tám nguyện trang nghiêm Tịnh độ, ao sen đài báu dễ đến mà không người. Kẻ ác tướng địa ngục đã hiện, ăn năn niệm Phật còn được vãng sanh, huống là người giới huệ, huân tu thánh hạnh, quyết chắc công phu không luống uổng! Dứt lời Ngài nói:” Các Thầy bạn của ta hiện theo đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đồng đến rước ta. Nói xong, ngồi kiết già mà tịch, an nhiên như nhập thiền định. Ngài còn là người truyền thủ diệu chỉ “nhất tâm tam quán, nhất niệm cụ túc vạn hạnh”. Đại sư thân chứng Pháp Hoa Tam Muội, hoằng truyền tông chỉ Pháp Hoa vẫn lấy Tịnh độ làm quy túc cầu vãng sanh Cực Lạc. Ngài viết Quán Vô Lượng Phật kinh sớ Diệu Tông sao hiển bày diệu quán, và khi sắp viên tịch lại xướng đề kinh, thật đã rõ pháp Diệu quán nầøy mầu nhiệm biết chừng nào!

Vì vậy hành giả muốn vào viên chỉ Diệu quán này trước phải hoàn thành phương tiện hạ thủ công phu, như người muốn đựng chất đề hồ quý giá phải súc bình thật sạch thì đồ quý đựng mới trọn ngon, kế tu chánh nhơn tịnh nghiệp và thực hành tán thiện để chắc được vãng sanh, sau đó thực hành định thiện để tội nghiệp vô lượng kiếp tiêu trừ, hiện đời được vô sanh nhẫn, chứng Quán tưởng niệm Phật tam muội, đức Từ Phụ A Di Đà đưa tay vàng sờ đầu thọ ký, trong khoảng khảy móng tay vãng sanh về thế giới Cực lạc. Đây là pháp môn vô cùng thù thắng, hành giả nên cẩn thận từng bước thực hành.

Câu hỏi Diệu Quáng Khái Luận

1. Thế nào là chủ trương và đường hướng thực hành của Pháp môn Diệu Quán?

2. Nói rõ sự lợi ích của người tu Diệu Quán?

3. Người muốn vào Đạo phải có điều kiện gì?

4. Tin là gốc đạo vậy cần phải tin Pháp gì?

5. Kinh A Di Đà nói: Niệm Phật Nhất Tâm một ngày được vãng sanh, cần gì đến 7 ngày?

Thích Hồng Nhơn

Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa V – Bài II  Đường Vào Diệu Quán

Diệu quán là một phương pháp Niệm Phật khá cao siêu, là một môn tam muội được coi là vua các tam muội. Người thực hiện được tam muội nầy diệt trừ được vô lượng tội trọng, chắc chắn được vãng sanh và được vô sanh pháp nhẫn. Con đường vào diệu quán không ít trở ngại và khó khăn nên hành giả phải dùng nhiều tự lực để đạt  đến. Vì vậy hành giả khi khởi hành phải trang bị cho mình đầy đủ những điều  cần thiết, những tư   lương chính  yếu để khỏi  bị cảnh khảo đảo mà phải bỏ dở dang nửa chừng.

Quán pháp có tâm năng quán và cảnh sở quán. Tâm năng quán thuộc  phần tự lực, nên hành giả  phải trang bị một hoàn cảnh thích hợp làm thế nào có thể dẹp được các thứ làm trở ngại bên ngoài để cho việc tu hành của mình được dễ dàng, như chỗ  ở quá ồn náo làm cho tư tưởng khó tập trung vào cảnh quán, hoặc hoàn cảnh nóng lạnh bức bách thân tâm, hoặc các duyên vụ bận rộn và không có người giúp đở về tinh thần hoặc vật chất, cũng làm trở ngại cho việc tu  hành.

Đối với chánh nhơn bên trong cũng làm trở ngại chúng ta không kém. Con người sanh ra trong cõi đời 5 trược nầy, chính bản thân  của mỗi người đã mang theo những nghiệp nhơn từ thuở quá khứ, còn gọi là câu sanh nghiệp, vì vậy có người bản tính hay sân hận mà ít tham lam, hoặc  si mê mà ít sân, vì vậy, người tu hành phải quán chiếu diệt trừ các  tánh ấy thì việc quán tưởûng mới có nhiều kết quả. Ngũ dục tình ái  cũng là  thứ khó trừ vì nó là cái gốc đeo theo ta từ vô thỉ, nên kinh nói: “Ái không nặng thì không  sanh ở cõi Ta Bà”. Muốn trừ được nghiệp câu sanh nầøy, hành giả phải nghiêm trì giới luật thì Diệu quán mới có thể tiến hành. Đồng thời những nghiệp hiện hành cũng phải dứt, như hằng ngày  chúng ta ở trong trường thanh sắc, sáu căn tiếp xúc với sáu trần liên tục sanh ra sáu thức làm cho hành giả tâm ý bồn chồn không yên, nếu không có hoàn cảnh thuận tiện như ở chỗ nhàn cư tịnh  xứ thì làm sao nghiệp thức chẳng mênh mang.

Muốn Diệu quán được thành  tựu, trước cần phải trang bị những động cơ chính yếu hầu dứt khoát những hành động ngược lại với đường hướng tu hành. Hành giả phải biết cõi thế gian  nầy thực sự là một nhà lửa, cõi Cực Lạc là nơi an lạc muôn đời, biết cõi Cực Lạc chủ bạn trang nghiêm, về nơi  ấy là vĩnh viễn bất thối, thẳng đến thành Phật. Từ nhận chân được những nẻo quanh đường tắc như thế rồi, lập chí quyết định dùng Diệu quán để trở về. Nhứt quyết rời khỏi Ta Bà không một mãy may luyến tiếc, rồi tinh tấn kiên trì cấm giới và thực hành quán tưởng  đúng  pháp cho đến  thành tựu viên mãn.

I. Động cơ tiến vào Diệu quán

1- Để thực hành Diệu quán

Hành giả muốn thực hành Diệu quán phải luôn luôn nhớ và biết rõ Ta Bà là cõi khổ, con người bị áp bức bởi ba khổ, tám khổ, vô thường khổ,  luân hồi khổ, cho đến tám vạn bốn ngàn trần lao, muốn tận tri, hành giả phải quán sát khổ đế trong Tứ Diệu Đế, để   nhận thấy một cách chắc chắn, từ đó  sanh  lòng nhàm chán thật sự. Đồng thời hành giả phải luôn luôn nhớ và biết cõi Cực  Lạc ở Tây Phương không có các khổ não, chỉ hưởng các điều  vui. Cõi Cực Lạc không có 3 khổ: vì người sanh  cõi  nầy  là liên hoa hóa sanh, hoàn cảnh  thắng  diệu nên không có khổ khổ, do công đức  vô lậu của Phật A Di Đà, vĩnh viễn không có hư hoại nên không có hoại khổ, về vật chất tự  nhiên sẵn có, về tinh thần thì luôn trụ trong chánh định và cũng vì cõi nầy không có tà định tụ nên không có hành khổ.

Cõi Cực Lạc không có 8 khổ: người vãng sanh về cõi Phật trong khoảnh khắc thấy mình sanh  vào trong  hoa sen, hoa nở gặp Phật và Bồ tát nên không có khổ về sanh. Nhân dân  cõi Cực Lạc sống lâu vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp nên ở  đây không có già,  bệnh và chết. Nhân dân   ở cõi Cực Lạc có đủ sáu  phép thần thông, bạn là Bồ tát bất thối, chứùng vị không lui sụt nên không có khổ thương yêu chia  lìa, oán thù gặp gỡ, cầu không được và ngũ ấm xí thạnh. Hành giả luôn luôn niệm như vậy, hạnh hân và yểm thành tựu, khi dây đứt chim bay chắc chắn về chỗ ưa thích. Người vãng sanh về cõi Cực Lạc là người thoát khỏi nhà lửa tam giới, một  đời bổ xứ thẳng đến thành  Phật, nên cõi nầy vĩnh viễn thoát  khỏi   khổ   luân hồi.

2- Muốn vào Diệu quán

Hành giả muốn vào Diệu quán cần phải quán sát cõi Cực lạc y chánh trang nghiêm. Người về Cực lạc không phải là tìm cái vui thay đổi của thế gian mà hưởng cái vui chơn thường lạc ngã tịnh của Niết Bàn, mục đích hành giả về cõi Cực Lạc là để thực hiện tứ hoằng thệ nguyện, phiền  não vô tận đều dứt hết, thệ  nguyện học vô lượng pháp môn, để trở lại cõi trược độ vô biên chúng sanh, viên thành quả vị vô thượng của Phật. Như vậy hành giả quán sát y chánh trang nghiêm với mục đích thành Phật độ sanh.

3- Nhất tâm phân định

Hành  giả đã chán cõi khổ ưa thích cõi vui, muốn hoàn thành mục đích thành Phật độ sanh rồi, cần phải quyết tâm xa lìa các thứ ngũ dục lạc của thế gian, các thứ  phiền não che ngăn, đồng thời quyết tâm  thực  hành Diệu quán thề quyết không thay đổi, dù có bị các thứ phá hoại của Thiên ma, ngoại đạo, nội chướng, ngoại chướng cũng nhất định tu tiến đến cùng. Phát nguyện kiên cố như ngày xưa Đức Thế Tôn đã phát nguyện: “Ta không thành Đạo thề quyết  không rời khỏi tòa cỏ nầy.” Vì vậy hành giả trước khi  vào Diệu quán cần phải thâm nghiên quán pháp, phải biết rõ  con đường đi, chỗ nào quanh co khúc khuỷu, rồi sau mới quyết định tiến tu, đúng theo con đường đã định mà tiến, dù thế nào cũng không thay đổi.

4- Ý muốn rời khỏi cõi khổ

Phật dạy: “Động cơ làm tất cả  pháp  lành, ý muốn là cội gốc.” Hành giả muốn lìa cõi khổ Ta Bà, muốn được  pháp môn Diệu quán, để sanh về cõi Cực Lạc, do lòng ưa thích ham muốn là mạnh mẻ nhất. Vì vậy lòng ham muốn ưa thích thúc đẩy hành giả lập chí lớn, lập nguyện to, ham muốn được về cố hương Cực Lạc, và chỉ có cõi ấy mới là nơi an lạc vĩnh viễn. Người có chí nguyện chán khổ ưa vui muốn  thực hành Diệu quán chắc chắn được thành tựu.

5- Tinh tấn không dừng

Đã có ý muốn thực hành Diệu quán để về cõi Cực Lạc chứng quả Bồ đề, đã phát thệ  nguyện rồi, hành giả phải luôn luôn tinh tấn kiên trì cấm giới, vì cấm giới là chiếc giáp sắt ngăn chận những thứ ma chướng, vọng tưởng phiền não. Lại nữa, bệnh của chúng  sanh  là trước siêng   sau trễ, vì  thế  nên việc làm không  đến thành công như  người cọ cây lấy lửa, cây vừa mới nóng bỏ ngang giữa chừng, biết bao giờ mới có lửa. Do đó các pháp tu thánh đạo đều lấy tinh tấn làm đầu. Người tinh tấn là người chuyên cần siêng năng, thẳng tiến mục đích đã vạch sẵn, không vì một lý do gì mà lùi  bước. Có tâm tinh tấn kiên cố, Diệu quán chắc chắn được thành tựu.

II. Trang bị các trợ duyên bên ngoài

Người tu Diệu quán phải đi con đường trung đạo, mọi việc thái quá hoặc bất cập đều bị Phật Tổ quở trách. Vì vậy, trước khi vào Diệu quán, các trợ duyên bên ngoài phải có vừa đủ, các việc ăn mặc ở phải vừa đủ, các duyên vụ phải dứt trừ , thiện tri thức sẵn sàng giúp đỡ thì công việc vào đạo tràng tu tam muội mới có được nhiều kết quả.

Trong chương trước chúng tôi có nói rõ nếu người tu tịnh nghiệp ba phước nếu hồi hướng cũng được vãng sanh, người  thực hành chánh nhơn tán thiện cũng được vãng sanh, hai hạng nầøy  chuyên nhờ vào Phật nguyện lực mà được. Duy có phần Diệu quán thực hành định thiện thuộc thời vấn, Đức Phật theo lời yêu cầu của bà Vi Đề Hy mà dạy cho Diệu quán để đạt được tư duy và chánh thọ, hiện đời được vô sanh nhẫn, vì thế phải dùng tự lực để đạt được phép quán đã dạy. Do đó, đây là phương tiện thực hiện hạ thủ công phu của người tu định thiện. Nếu chúng ta có phương tiện trang bị cho mọi pháp tu niệm Phật đều có kết quả.

1- Cách ăn của người tu Diệu quán

Ở xứ ta không có khất thực, chỉ có đàn việt cúng dường hoặc khiết tịnh thực trong chúng tăng, nếu người xuất gia thì việc ăn uống do đàn việt dâng cúng, nếu người tại gia phải trang bị trước cho mình có đầy đủ nhu dụng trong thời gian tu tập. Dù vậy cách ăn dùng của người tu Diệu quán là chỉ ăn ngày 2 bửa, bửa sáng ăn nhẹ và bửa trưa chính, buổi chiều chỉ uống nước, vì ăn buổi tối làm bụng no, không tọa thiền được vì bị nhiều hôn trầm.

2- Cách mặc của người tu Diệu quán

Là người xuất gia chỉ có 3 y và 3 bộ đồ hằng ngày nâu sòng thô sơ, nếu ở các quốc gia lạnh hoặc người già, Đức Như Lai cho ngoài 3 y ra còn có thêm một số áo mền đủ ấm. Cốt yếu phải thuyết tịnh, biết lượng vừa đủ, nếu quá tham cầu chứa nhiều thì tâm loạn, chướng ngại cho đường tu. Người tại gia phải thay đổi áo thế tục, mặc đồ lam hoặc nâu sòng, cũng giữ chừng 3 bộ đồ thay đổi và một hoặc vài áo lễ. Đặc biệt khi vào đạo tràng phải mặc đồ mới, hoặc mới giặt sạch, không được mặc đồ đẹp và trang sức giữ như những ngày thọ bát quan trai.

3- Chỗ ở của người tu Diệu quán

Chỗ  ở  của  người  tu gọi là nhàn cư  tịnh xứ. Chữ nhàn có nghĩa là rảnh rang không kinh doanh tạo tác; chữ tịnh có nghĩa là vắng vẻ không có tiếng ồn náo. Nếu người xuất gia thì có 3 chỗ ở có thể tu Diệu quán.

a. Ở trên núi cao, hoặc trong núi sâu chẳng có người qua lại. Người mới phát tâm xa lìa hoàn cảnh ồn náo, có nhiều lợi ích, vì ở trong rừng sâu, núi cao không có người đến, không sanh ái nhiễm, sáu căn tiếp xúc với sáu trần không sanh chấp trước, dễ dàng cùng đạo tương ưng. Như Đức Thế Tôn xưa ở Tuyết Sơn khổ hạnh, tuy thuận lợi việc tu, nhưng nhiều thiếu thốn và cực khổ, phải là người bậc thượng mới kham nhận nỗi.

b. Chỗ đầu đà lan nhã: lan nhã nầy ở cách xa làng xóm ít nhất  cũng ba, bốn dặm, chỗ mà tiếng gọi trâu không còn nghe, không có các thứ tiếng ồn náo, như tiếng gà kêu, chó sủa v.v..Ở đây dễ tu nhưng có chướng  ngại là khi khất thực phải đi quá xa mới đến xóm làng làm mất thì giờ tu tập.

c. Chỗ thanh tịnh già lam: Già lam là tiếng phạn, nói cho đủ là Tăng Già Lam Ba là chỗ chư Tăng hòa hợp mà ở, nơi đây xa rời  những người thế tục, những người cùng giới luật đồng tu, trì giới tinh nghiêm nên gọi thanh tịnh già lam là nhàn cư tịnh xứ. Muốn tìm châu, phải sóng lặng nước trong thì châu mới hiện, đó là lý nhất định; nếu suốt ngày cảnh giới trần lao phiền não làm khuấy động mà muốn tìm thanh tịnh bảo châu của tự tánh hiện tiền thì không có lý đó. Người tu Diệu quán nên cần ở chỗ thanh tịnh già lam; nếu là người tại gia cần phải có một cái am riêng, xa rời thế tục thì việc tu Diệu quán mới dễ được thành tựu.

4- Dứt các thứ duyên vụ

Trong đời các thứ duyên vụ làm trói buộc con người là trị sanh vụ, nhơn gian vụ, công xảo kỹ thuật vụ và học  vấn vụ. Thế nào là trị sanh vụ? Là nghiệp vụ nuôi sống như các nghề sĩ nông công thương. Các nghề nầy thuộc về sự nghiệp hữu vi, người tu lấy hoằng pháp lợi sanh làm nghiệp vụ nên phải dứt hẳn. Thế nào là thế gian vụ? Là không kết bằng hữu bè đảng thế gian. Người tu hiểu rõ nhân sự vốn không, sanh tử là việc lớn. Kết giao thù đáp là  nhân duyên chướng đạo. Thế nào là công xảo kỹ thuật vụ? Là những công nghệ kỹû thuật thế gian như nghiên cứu cơ giới, làm thuốc trị bịnh, bói toán xem tướng, viết chữ, tính toán đều là những thứ ngăn ngại đạo nghiệp. Thế nào là học vấn vụ? Học vấn vốn làm tăng trưởng tri thức, thấy xa hiểu rộng. Người tu chỉ học Phật  pháp, bỏ hết những thứ học như văn chương thi phú, triết học khoa học thế gian. Vì sao? Vì học vấn thế gian là học theo tương đối, là các pháp hữu lậu cần bỏ; Trái lại học pháp xuất thế là pháp vô lậu, giải đáp những lý cứu kính. Người tu Diệu quán khi chưa hiểu có thể học kinh luận để dứt nghi, khi đã dứt nghi  tiến đến tu tập thì học vấn cũng dẹp bỏ. Kinh Kim Cang Phật dạy: “Pháp còn phải bỏ huống gì là phi pháp”. Phần duyên vụ nầy đặc biệt người cư sĩ nên bỏ dần, người xuất gia phần nhiều đã bỏ hết. Nếu còn vướng mắc cũng phải đoạn trừ mới tu Diệu quán được.

5- Phải gần thiện tri thức

Phật dạy: “Thiện tri thức là người đã được nhân duyên ngộ đạo.” Thiện tri thức có nghĩa là khéo léo biết tất cả bệõnh của chúng sanh và biết thuốc có thể trị bịnh. Biết bịnh biết thuốc tùy bịnh cho thuốc gọi là thiện tri thức. Như vua A Xà Thế gặp thiện tri thức là Kỳ Bà khuyên quy y Phật được giải thoát mọi thống khổ. Hành giả tu Diệu quán cần phải gần gũi thiện tri thức.

Thiện tri thức có 3 hạng:

a.    Ngoại hộ thiện tri thức: Là những vị ủng hộ bên ngoài để đưa đến chỗ tu hành thành tựu như cung cấp cơm ăn áo mặc, cúng dường các thứ cầùn dùng làm cho hành giả trong tâm cũng như ngoài thân đầy đủ không bị náo loạn.

b.    Đồng hành thiện tri thức: Là những người cùng tu Diệu quán nên có thể trợ giúp cho nhau kinh sách tấn tu, chia xẻ cho nhau những kinh nghiệm thực tế, cùng nhau dồi mài để đạt đến thành công. Có người bạn đồng hành cùng một trình độ, cùng một kiến thức, cùng một phương pháp tu hành sẽ dễ dàng cùng nhau thông cảm. Vì thế người xưa nói: “Học thầy không tày học bạn là vậy.”

c.    Giáo thọ thiện tri thức: Là bậc thầy dùng thiện xảo phương tiện trao cho phương pháp tu quán tưởng  để hàng  phục thân tâm, chăm chỉ dạy bảo để hành giả được nhiều lợi ích như phá ngũ ấm, vượt khỏi ngũ trược, cùng tất cả cảnh ma đều dạy rành rẽ. Vì vậy, hành giả khi thực hành cần phải hỏi rõ, như người đi đường lạ phải có bản đồ và hỏi người đã đi qua để biết rõ khúc nào là đường quanh ngõ tắt. Người tu quán tưởng phải hỏi người đã tu quán tưởng rồi để biết những hiện tượng cảnh quán xảy ra. Vì thế 3 vị thiện tri thức nầy đối với người tu, dù xuất gia hay tại gia cũng đều quan trọng như nhau.

III. Làm sạch một phần chướng ngại bên trong

Người mới phát tâm, khởi tu Diệu quán, để làm sạch một phần chướng ngại bên trong cần phải trì giới thanh tịnh như người muốn dùng bình đựng đề hồ, trước phải súc bình cho sạch, sau đó mới đựng được vật quý, kế dẹp hết dục vọng trong tâm và dứt trừ nhữõng thứ che mờ chơn tánh, sau đó thực hành Diệu quán mới có nhiều kết quả.

1- Thế nào là trì giới thanh tịnh?

Phàm người đệ tử Phật không tạo ngũ nghịch, ở tại gia thọ giới của người tại gia như tam quy, ngũ giới, bát quan trai, tại gia Bồ tát giới; nếu người xuất gia thì thọ Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát. Khi hành giả thọ giới rồi mà cố gìn giữ không phạm gọi là trì giới thanh tịnh. Người nầy tu hành Diệu quán chắc thành công viên mãn, như người mặc áo trắng sạch, dễ nhận các màu sắc. Trường hợp có người tại gia hoặc xuất gia đã  thọ giới rồi, tuy không phạm giới trọng mà bị phạm giới khinh, muốn tu Diệu quán phải đúng như pháp mà sám hối, cũng được gọi là trì giới thanh tịnh, có thể tu Diệu quán, như y bị vết dơ bẩn, nếu giặt sạch cũng có thể mặc được. Trường hợp người hủy phạm giới trọng, theo Tiểu Thừa phạm trọng  giới không cho sám hối, riêng  Đại Thừa giáo môn phạm trọng giới cũng có thể sám hối diệt trừ. Nên trong kinh dạy: Có hai hạng người được gọi là trong sạch khỏe mạnh:

a- Không làm các điều ác.

b- Đã làm rồi hay sám hối.”

Người phạm trọng giới e chướng tu Diệu quán, cần phải sanh lòng xấu hổ, ở trước Tam bảo phát lồ sám hối, ăn năn chừa bỏ không dám phạm lại. Đối trước Phật tiền, đảnh lễ sám hối, quán tự tánh không, chí tâm nhớ mười phương Phật, sám hối tụng giới hoặc tụng Đại Thừa kinh điển, sám hối đến khi thấy hảo tướng thì tội lần tiêu diệt, tạm gọi là trì giới thanh tịnh, có thể tu Diẹâu quán. Đặc biệt những người dù xuất gia hay tại gia đều phải giữ Đại thừa tâm giới là các giới: sát sanh, trộm cướp, dâm dục, đại vọng ngữ. Bốn giới nầy người tu thiền không giữ kỹ dù trong tâm được định cũng không được thiền định của Phật, chỉ thành cao lắm là ma vương hoặc quỷ vương mà thôi. Vì thế người tu Diệu quán cũng phải nghiêm trì 4 giới trọng nầy.

2- Thế nào là dẹp hết các tham dục trong tâm?

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật bảo: “Nầy A Nan! Cái làm cho ông bị sanh tử luân hồi là do sáu căn của ông, cái làm cho ông thoát luân hồi chứng quả Bồ Đề cũng là sáu căn của ông.” Chính vì vậy, người tu Diệu quán phải xa lánh lòng tham dục do sáu căn tạo ra sáu trần đó là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Phải luôn luôn quở trách để lòng dứt bỏ những ham muốn về sắc đẹp, ham muốn về tiếng hay, ham muốn về hương thơm, ham muốn về vị nếm ngon ngọt, ham muốn về xúc chạm và ham muốn tất cả. Người tu Diệu quán cần phải dứt trừ nó đi, nhận rõ chỗ lỗi lầm tai hại của nó, cho căn trần hợp nhất thì nó chẳng làm náo động tâm người tu được.

Thế nào  là sắc dục? Khi mắt thấy hình mạo nam nữ đoan chính trang nghiêm, mắt phượng mày ngài, môi son răng ngọc và các vật báu xanh vàng đỏ trắng ở thế gian, từ đó sanh lòng ưa thích. Nói chung là sự tham sắc đẹp và châu báu. Tình ái là nguồn gốc của sanh tử, từ ngàn xưa các bậc anh hùng, vua chúa phần nhiều vì sắc đẹp mà mất mạng, mất nước nên sách có câu: “Sắc bất ba đào dị nịch nhơn.” Lại có người không tham đắm sắc đẹp, nhưng lại ưa thích các vật  báu như vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, họ coi châu báu còn quiù hơn sinh mạng. Muốn dứt trừ tham sắc dục, người trí khéo quán sát hiểu rõ nguồn gốc của nó vốn là hư  vọng sẽ không còn lòng tham ái.

Thế nào là thanh dục? Thanh dục là lòng ưa thích nghe các thứ âm thanh diễm ảo như đàn, sáo, tiêu, tơ, trúc, lụa …. làm say lòng người và các thứ ca vịnh tán tụng của nam nữ làm cho người nghe sanh lòng đắm trước, tạo  các ác nghiệp.

Thanh dục chia làm hai thứ:

Âm thanh của những loại vô tình như các dụng cụ âm nhạc quyến rũ lòng người.

Âm thanh của loài hữu tình như những nam nữ ca sĩ có giọng ca truyền cảm, lời hay tiếng ngọt dễ say đắm lòng người. Hai thứ nầy cần phải xa lìa, vì nó có khả năng làm mê đắm lòng người tạo nhiều tội lỗi và mất hết tự chủ không thể tu Diệu quán.

Thế nào là hương dục? Hương dục là chỉ những thứ ham muốn về mùi thơm như thân hương của nam nữ, các thứ mùi hương hoa, hương phấn, dầu thơm các loại của thế gian và tất cả những thứ hương xông làm người ngửi sanh lòng ái nhiễm, mởû cửa kiết sử. Ngày xưa có một vị tỳ kheo ở bên ao sen, ngữi mùi hoa lòng sanh ưa thích. Thần giữ ao đến quở trách: Vì sao ông ngửi trộm hương của ta. Vì đắm mê mùi hương mà tất cả các kiết sử đều mở, tham sân si đều hiện. Do đó tham đắm hương thơm là một tội lỗi không thể tu Diệu quán.

Thế nào là vị dục? Vị dục là những ham muốn các thứ ăn uống cao lương mỹ vị, các thứ ngọt, đắng, chua, cay, mặn, lạt, làm cho người sanh lòng đắm nhiễm, khởi ra các ác nghiệp. Vì để cho vị dục thỏa thích mà con người không từ bỏ những sát nghiệp kinh khiếp. Tuy nó là giặc bên ngoài nhưng có khả năng cướp mất những gia bảo của tự tâm. Người đời vì miếng ngon mà tàn sát sinh mạng, tìm đủ cách giết hại loài vật để cung cấp cho miệng bụng, hoặc cướp giựt của tiền người khác để có miếng ăn ngon. Vì vị dục mà làm những việc thương luân hại lý, dứt hạt giống đại từ bi. Người tu Diệu quán cần phải xa lìa.

Thế nào là xúc dục? Xúc dục là những thứ ham muốn khi có sự va chạm  về thân thể của những người nam nữ có cảm xúc êm  ái mềm mại, hoặc khi lạnh gặp ấm, khi nóng gặp mát, cùng các thứ va chạm ưa thích. Người đời thường chìm đắm trong việc va chạm ân ái, nên từ đó khởi chướng, mất hết đạo nghiệp. Xúc có rất nhiều tai hại, vì nó là cội gốc của sinh tử. Kinh dạy: “Tất cả chúng sinh đều lấy dâm dục làm chính tánh mạng.” Dâm từ xúc dục mà ra, vì thế nó rất nguy hiểm. Người tu  Diệu quán cần phải xa lìa.

Ngoài ra, người đời không biết năm thứ dục nầy có nhiều tai hại nên sanh lòng tham đắm, đến chết cũng không bỏ, sau chịu nhiều điều khổ não. Nên biết sắc dục như hoàn sắt nóng, cầm vào tay thì cháy tay, thinh dục như trống độc dược nghe vào tai thì điếc tai, hương dục như mùi rồng độc, ngửi vào thì bệnh nặng, vị dục như mật trét trên lưỡi dao, liếm vào thì đứt lưỡi, xúc dục như sư  tử nằm chờ đến gần thì bị nó ăn thịt. Cổ nhân thường nói: “Hương vị làm mờ chí khí, sắc thanh hại đến thân mình, xa rời được mới gọi là kẻ sĩ, cận kề dễ nhiễm ái tình.” Vì thế người tu Diệu quán phải tuyệt đối dứt trừ. Còn một thứ dục nhiếp thuộc pháp trần, có công năng điều khiển năm thứ dục trên thật là mãnh liệt, gọi chung là lục dục, nhưng vì nó nhiếp thuộc tâm pháp không có tướng bên ngoài, nên không nêu.

3- Thế nào là thứ che mờ chơn tánh?

Phần chướng ngại trong lòng của người tu Diệu quán là tham, sân, si và đẳng phần. Người bị các thứ che mờ chơn tánh nầy là những thứ sanh dục trong ý căn, nó có khả  năng  đốt cháy các pháp lành. Người còn giữ tham dục  cách đạo rất xa. Vì sao? Vì tham dục là chỗ trụ xứ của các thứ phiền não, nếu lòng còn vướng vào dục thì không  thể nào gần đạo. Sân cũng vậy, nó chính là nguồn gốc làm mất Phật pháp, nhân duyên đọa vào ác đạo, là oan gia của pháp lạc, là giặc dữ của tâm thiện. Vì thế hành giả khi tọa thiền tu Diệu quán, nếu có tâm sân Diệu quán liền bị hủy  hoại cần nên buông bỏ.

Hành giả tu Diệu quán không được ngủ mê và có lòng nghi. Người ngủ mê bị vô minh hoặc nghiệp che ngăn, không được tự do, người ngủ nhiều phế bỏ thời gian tu quán mà cũng bị tiêu tan hết công phu làm tâm mờ mịt, căn lành tiêu mất. Kinh dạy: “ Đầu đêm, cuối đêm không được bỏ phế, không vì nhơn duyên ngủ nghỉ mà làm cho một đời trống rỗng luống qua, không được vật gì! Nên nhớ lửa vô thường đốt cả thế gian, mau mau ra khỏi chớ ham ngủ nghỉ. Người có lòng nghi bị che mất tâm tánh, nên trong các thiện pháp và các pháp tu hành đều không có lòng tin, do đó ở trong  Phật pháp không được lợi ích gì. Ví như có người được vào núi báu nếu không có 2 tay thì không lấy được món gì! Hai tay chính là tín căn, đối lập với tín căn là lòng nghi. Vì thế người tu Diệu quán có một  chút lòng nghi chắc chắn quán tưởng khó thành tựu. Nghi và ngủ mê thuộc về tâm sở si, nên người tu cần phải dứt bỏ.

Hành giả tu Diệu quán phải bỏ tính trạo cử và hối hận. Người trạo cử là người thiếu điềm đạm, bình tĩnh. Trạo cử về thân là người ưa thích dạo chơi chạy nhảy múa may, lắc lư thân thể, ngồi đứng không yên, làm tâm cũng theo đó mà chẳng an. Trạo cử về miệng là người ưa xướng ca ngâm vịnh, cạnh tranh phải quấy, cãi lẫy những việc không đâu vào đâu, bàn tán việc thế gian làm tâm điên đảo. Trạo cử về tâm là người tâm tình buông thả, thả ý buông lung chuyền chạy đó đây, suy nghĩ tài nghệ thế gian, làm theo những điều phản lại chánh đạo, làm tâm quán tưởng khó đình trụ. Người tu quán luôn luôn nhiếp tâm còn không định được, huống chi ba nghiệp buông lung theo tán loạn thì diệu quán khó thành.

Sau khi để tâm buông lung chạy nhảy rồi, hành giả cảm thấy hối hận ăn năn, hối tuy là việc tốt, nhưng khi quán tưởng cứ nhớ đến những việc lầm lỗi đã làm, lo nghĩ che kín tâm tư, quán pháp khó thành vì có người sau khi trạo cử sanh hối, hoặc người phạm tội trọng thường ôm lòng lo sợ, sự hối hận là mũi tên cắm vào tim, cứng chắc không thể nhổ được. Vì vậy, hành giả, sau khi hối hận ăn năn rồi, tâm nên xả bỏ, không nên nghĩ nhớ, từ đó tiến tu Diệu quán, gởi tâm ở cõi Thánh, thân tâm tự nhiên thanh tịnh.

Người dứt được ba món trên đây là người dứt được cội gốc của 84.000 thứ trần lao, thiện pháp nhất định được thành tựu.

IV. Đường vào Diệu quán.

Một người chưa từng luyện tập việc chế tâm sẽ không biết việc khó khăn trong lúc điều ngự tâm mình. Người ấy cho rằng mình ra lệnh cho tâm suy tưởng theo bất cứ điều gì mình muốn, hoặc điều khiển nó tác động  theo những gì mình muốn, đó là điều rất sai lầm. Chỉ có những người đã tu tập quán tưởng mới hiểu được sự khó khăn trong việc điều ngự cái tâm luôn luôn bất trị và giao động nầy. Chẳng hạn, ta nhắm mắt cố quán tưởng một hình ảnh, ta sẽ khám phá ra ngay là việc ấy rất khó khăn, vì hình ảnh ấy luôn mập mờ và giao động. Nó phai mờ, lúc nổi lúc chìm và không đứng yên hay hiện ra hoàn toàn. Đối với người không có công phu tu luyện thì việc quán tưởng nầy cao lắm chỉ đến cảm giác hơn là mắt thấy. Chính vì thế, muốn vào Diệu quán ta phải từng bước tu tập từ dễ đến khó, từ thấp lên cao thì mới có kết quả.

1- Sơ tâm tu quán tưởng.

Hành giả bắt đầu tu Quán tưởng, trước phải xa lìa vọng ngôn, ỷ ngữ và những tán loạn vô ích. Rồi đến điện thờ Phật A Di Đà, nhìn tượng Phật đủ các tướng tốt và viên quang, liền cúi đầu đảnh lễ, lòng tôn kính tin mến, tưởng hình tượng ấy là thân thật của đức Phật. Hết lòng kính ngưỡng như đức Phật hiện đến, rồi nhất tâm nhìn kỷ từ trên đảnh tướng đến dưới bàn chân.

Nhìn xong, đi qua chỗ vắng vẻ, ngồi ngay thẳng, quán tưởng đức Phật hiện ra cao lớn như tướng đã nhìn.

Trong tâm phải gắng nhớ luôn chớ để quên mất, nếu tạm quên,  phải đến điện Phật chăm nhìn lại. Lúc nhìn xem như vậy, lòng phải hết sức cung kính như đối Phật thiệt, không để có quan niệm là hình tượng. Rồi sắm hoa đẹp, hương thơm dâng cúng. Nhất tâm tưởng là đức Phật ở trước mình, và nghĩ rằng : Đức Phật là bậc  nhất thiết trí,  Ngài thấy tất cả, nghe tất cả, chắc Ngài biết rõ tâm mình. Khi quán tưởng thành, liền về chỗ vắng, ngồi tưởng nhớ mãi không quên, nhất tâm siêng tu đủ 21 ngày,  nếu người đầy đủ phước đức thì thấy đức Như Lai A Di Đà hiện ra.

Thiền sư  Trừng Cơ đã kể lại bước đầu tu quán tưởng của Ngài như sau: “Có một lần tôi tu tập quán tưởng 100 ngày tại một ngôi cốc, trên một ngọn núi cao. Tôi tập quán tưởng một hình ảnh Phật ngồi trên đầu tôi. Mỗi ngày tôi tu tập từ 8 đến 9 tiếng đồng hồ chỉ chuyên quán tưởng hình ảnh nầøy. Trong hai tuần đầu, hình ảnh rất mập mờ, mơ hồ và không ổn định. Khi tôi quán tưởng đầu Phật thì tôi mất hết dấu tích về tay và thân của Ngài; khi tôi thấy tay và thân thì tôi quên mất đầu và chân. Chỉ thỉnh thoảng lắm tôi mới quán tưởng được toàn thể hình ảnh Phật một cách rõ rệt mà không bị xao động hay phai nhạt. Cuối cùng, sau khoảng 7 tuần tu tập liên tiếp, hình ảnh quán tưởng lần lần trở nên linh động và rõ rệt đến nỗi nó xuất hiện còn rõ rệt hơn mắt trần nhìn thấy. Có người cho rằng việc nầøy khó tin nhưng các hành giả tu tập Diệu quán có thể chứng thực.

2- Cách quán tưởng về y báo.

Y báo là chỗ nương ở của đức Phật, người quán y báo là quán cõi Cực Lạc trang nghiêm. Y báo quán gồm có 7 pháp quán là nhật quán, thủy quán, địa quán, thọ quán, bảo trì quán, bảo lâu quán và hoa tòa quán. Phàm muốn quán pháp được thành tựu, hành giả phải quán từ thô đến tế. Trước tiên, hành giả phải quán cho được thành tựu ba pháp quán đầu là nhật quán, thủy quán và địa quán. Người quán thành tựu được ba pháp nầøy gọi là  thấy được phần thô của cảnh giới Cực Lạc. Trong Quán kinh, Phật dạy: “Khi thủy tưởng thành tựu, mỗi thứ thấy rất rõ ràng, khi nhắm mắt mở mắt không cho tan mất, chỉ trừ giờ ăn, ngoài ra thường nhớ việc ấy. Người quán tưởng như thế gọi là thấy được phần đất thô của cõi Cực Lạc. Nếu người quán được pháp địa quán nầøy sẽ trừ được 8 muôn ức kiếp tội nặng sanh tử. Bỏ thân nầøy đời sau chắc được sanh về Tịnh độ. Bốn pháp quán sau là phần tế của cõi nước Cực Lạc. Người quán thành tựu 7 pháp nầy, hiện tiền sẽ thấy cõi Cực Lạc.

3- Cách quán tưởng về chánh báo.

Diệu quán cảnh rất cao siêu, người căn cơ thấp phải thọ trì lần lượt từ thấp lên cao mới có kết quả.  Quán về chánh báo gồm có 6 pháp , hành giả trước phải quán tượng để thấy phần thô của thân Phật, kế đến quán pháp tạp tưởng là hiện thân nhỏ của Phật A Di Đà cao một trượng sáu, đứng bên bờ ao thất bảo và hai Bồ tát phù trợ Phật thân tướng cũng nhỏ như thân Phật. Rồi sau đó mới quán chơn thân và các pháp quán khác. Quán kinh dạy: “Nếu chí tâm muốn sanh về Tây phương, hành giả trước phải quán kim thân Phật, chiều cao một trượng sáu ở bên ao nước.” Như trước đã nói: Thân Phật Vô Lượng Thọ cao lớn vô lượng vô biên, không phải tâm lực của phàm phu có thể nghĩ tới. Dù vậy, đức Như Lai kia xưa có nguyện lớn, nếu người nào có lòng nhớ tưởng chắc được thành tựu. Vì thế, nên biết, trước quán dễ, sau quán khó, đều nhờ Phật lực gia trì. Dù người căn độn mà cố tu Diệu quán chắc được thành công. Tượng quán đã thành thì các tướng đẹp đều hiện. Nên Quán kinh sớ sao nói: “Quán tưởng là yếu thuật để vào môn  Diệu quán”.

Tóm lại, đường vào Diệu quán là con đường thẳng vào thánh đạo, hiện đời chứng pháp nhẫn vô sanh. Do đó, trước tiên hành giả phải có một động cơ mạnh mẽ là nhàm chán cõi Ta bà, yêu mến muốn sanh về Tịnh độ. Đã có động cơ nầøy ững chắc thì dù gặp muôn vạn hiểm nguy cũng không dừng bước diệu quán mới dễ thành. Đồng thời ta cũng cần trang bị các duyên bên ngoài cho nhu cầu của thân vừa đủ thì tâm mới được an. Muốn tâm được an, bên trong phải dẹp một số chướng ngại căn bản như ngũ dục, tam độc. Rồi theo phương pháp thực hành của người xưa đi từ dễ đến khó, từ thô đến tế, cộng với năng lực gia trì của chư Phật, diệu quán chắc chắn thành tựu.

Câu hỏi Đường Vào Diệu Quán

1. Có mấy động cơ để có thể tiến vào Diệu Quán? Giảng rõ?

2. Người muốn vào Diệu Quán phải trang bị trợ duyên bên ngoài như thế nào?

3. Người Tu Diệu Quán muôn bên trong không chướng ngại cần làm sạch những chướng ngại gì?

4. Người vãng sanh một niệm đến 10 niệm là bậc hạ, còn 1 ngày đến 7 ngày là bậc thượng phải không?

5. Theo Kinh người tu tự lực bao lâu được thành, tu tha lực bao lâu được thành?

Thích Hồng Nhơn

Download phần còn lại ở pdf file

Comments are closed.