Thế Giới Cực Lạc – Chương 5


Chương 5: Tông chỉ niệm Phật

GIÁ TRỊ NIỆM PHẬT

Tại chùa Long Thành tỉnh Vĩnh Long có hai câu đối sâu sắc và được xem là tông chỉ của pháp môn Tịnh độ:

“Vô não, vô ưu chơn Cực Lạc.
Bất cấu, bất nhiễm thị Tây phương.”

Bản chất cực lạc là trạng thái an vui về phương diện cảm xúc, nhận thức và hành trì. Trong trạng thái đó, tất cả dòng chảy cảm xúc của buồn, vui, thương, ghét, giận… nói chung là những cảm xúc âm tính đều vắng lặng. Nhờ trạng thái vắng lặng các phiền não mà con người thiết lập được cực lạc ngay trong cuộc đời này.

Tây phương Cực Lạc là cảnh giới an lành của đức Phật A-di- đà và là nơi mà các vị liên hữu mong mỏi phát nguyện vãng sinh về. Mục đích của bản kinh là giúp hành giả có mặt ở Tây phương, không còn bị nhiễm cấu trần lao, thái độ chấp trước và nhiễm đắm không còn. Bản chất của pháp môn Tịnh độ bao gồm ba yếu tố là niệm Phật, thiền quán và chánh định. Tuy là pháp môn đơn giản nhưng lại dung thông các pháp môn khác. Niệm Phật là yếu tố trọng tâm nhất của pháp môn Tịnh độ.

Có một gia đình tu theo pháp môn Tịnh độ, họ có hai người con, đứa út mười tám tuổi và đứa lớn hai mươi bốn tuổi. Hai người con học rất giỏi, có năng khiếu thể thao nên được tuyển dự thi giải thể dục thể thao cấp tỉnh. Trước và trong lúc thi đấu, cả hai người đều niệm Phật. Kết quả thi đấu, người anh đoạt giải quán quân, còn cậu em út đoạt giải nhì.

Lúc trở về nhà, cha mẹ chúng đã hỏi các con có niệm Phật khi thi đấu hay không, cả hai đều trả lời là “có”. Người cha vui mừng lắm và nghĩ rằng đó là lý do mà hai người con ông đã thi đấu thành công. Ông quay sang đứa con út hỏi: “Con niệm như thế nào?”, nó trả lời: “Thưa cha, con không niệm Phật A-di-đà mà con niệm danh hiệu đức Bồ-tát Quán Thế Âm.” Nghe xong, ông suy tư về sự khác nhau giữa thần lực của Phật và Bồ tát. Kế tiếp, ông quay sang hỏi đứa con lớn: “Thế con niệm Phật nào?”. Nó vội trả lời: “Thưa cha, con niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà”. Từ kết quả đó, ông suy luận rằng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà có công đức lớn hơn niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm.

Thực ra, giá trị của niệm Phật không nằm ở kết quả thông thường như gia đình này vừa nêu. Giá trị của nó vượt lên trên sự thắng thua hay những ứng dụng về phước báu mà con người có thể có trong cuộc đời. Trong tinh thần kinh A-di-đà, trì danh hiệu của đức Phật A-di-đà là để nắm lấy các giá trị tâm linh mà tất cả chúng ta cần phát huy trong đời này.

Bản chất của giá trị tâm linh nằm ở chỗ con người dụng tâm và hành trì như thế nào. Khi ta khởi lên ý niệm hồi hướng công đức cho kết quả học tập hay công ăn việc làm,  thông thường ta vẫn đạt được kết quả. Bởi sự hồi hướng công đức là cách tạo ra năng lượng, làm cho kết quả diễn ra trong thời điểm ta đang mong đợi. Thay vì để cho tiến trình thời gian tự diễn ra trong tương lai mười năm hay hai mươi năm, nhờ sự chuyển tâm, các hạt giống tích tụ trong quá khứ trổ quả sớm hơn thời gian dự định. Việc hồi hướng công đức có thể sánh ví như tình trạng hỗ trợ cho trái cây chín sớm hơn thời gian dự kiến hoặc như chất xúc tác giúp cho hoa mai có thể nở đúng vào ngày xuân. Đừng nên nghĩ rằng niệm Phật để đạt các giá trị quá quyền thừa hưởng từ nỗ lực chân chính của chúng ta.

PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT

Trong kinh A-di-đà, tông chỉ niệm Phật gồm nội dung liên hệ đến cư dân Tịnh độ. Gọi là cư dân để giúp ta có cái nhìn gần gũi hơn và thấy được hiệu quả do thực hành đúng phương pháp mà hành giả có thể đạt đến. Kinh mô tả các hành giả được vãng sanh về đây đều là những bậc Thượng thiện nhân, bậc A-bệ-bạt- trí, bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ, nói chung họ đều là bậc Thánh.

Phương pháp chánh niệm của các cư dân Tịnh độ gắn liền với pháp môn niệm Tam Bảo, nghĩa là niệm Phật, Pháp và Tăng. Niệm Tam Bảo có nguồn gốc từ phương pháp Lục niệm trong truyền thống kinh điển Pàli đó là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới (đời sống đạo đức), niệm Bố Thí (các giá trị nhường cơm xẻ áo, chia sẻ cho người đang có nhu cầu), niệm Thiên (niệm về kết quả sanh ở cõi trời hoặc các hành tinh có đời sống thuận lợi hơn so với cõi Ta bà).

Niệm Phật giúp con người duy trì được chiều sâu của đời sống tâm linh thông qua việc gắn liền với các hạnh lành mà Thế Tôn đã sống và truyền bá mang lợi lạc đến chúng sinh.

Niệm chánh Pháp là cách thức gợi nhớ đạo Phật là con đường của tuệ giác, từ bi, có thể tháo gỡ mọi bế tắc khổ đau của kiếp người.

Niệm Tăng là cách thức nhớ về những người xuất gia chân chính, có nhiều kinh nghiệm tu tập dấn thân và hành xử, giúp người cư sĩ tại gia có cơ hội bắt chước hạnh nguyện của chư Phật; nhờ đó có cuộc sống an lạc.

Ba phương pháp niệm Giới, niệm Bố Thí và niệm Thiên được xem là những so sánh căn bản giúp hành giả có được giá trị hành trì. Nhìn thấy được kết quả của hành trì ở hiện tại cũng như trong tương lai, hành giả sẽ có thái độ tinh tấn, vững chãi, không hề bị lùi sụt. Do đó, phương pháp Lục niệm được xem là cơ hội giúp hành giả làm lớn mạnh các hạt giống của chánh niệm và tỉnh thức. Trong kinh A-di-đà, đức Phật đưa ra hai ngữ cảnh gắn liền với sự niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng làm lớn mạnh chiều sâu của đời sống tâm linh.

Ngữ cảnh thứ nhất, đức Phật giới thiệu môi trường sinh thái ở đây rất tươi mát, các loài chim được sanh ra không phải vì nghiệp lực, dược Phật biến hoá để giúp hành giả nghe chánh pháp. Sự hỗ trợ này có khả năng giúp hành giả đạt được hân hoan, trải nghiệm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Ngữ cảnh thứ hai, với sinh thái có nhiều cây xanh bóng mát, gió thoảng, tạo âm hưởng vi diệu nhờ đó cư dân Tịnh độ cảm thấy vững tin và nhớ về Phật, Pháp và Tăng.

Trong đạo Phật, niệm Phật, Pháp, Tăng phải gắn liền với những đức tính mà con người cần có. Phật trong khái niệm “niệm Phật” là chư Phật nói chung với mười danh hiệu và mỗi danh hiệu là một hạnh nguyện. Khi nhớ đến những danh hiệu này, ta sẽ thấy đức Phật A-di-đà và đức Phật Thích Ca khác nhau về bản nguyện nhưng giống nhau về đức tu và con đường hóa độ mang lại kết quả an vui Mười danh hiệu đó là: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Khi niệm mười danh hiệu, ta nhớ đến tiềm năng Phật tính trong ta. Niệm danh hiệu của đức Phật A-di-đà là tông chỉ của pháp môn Tịnh độ và được sánh ví như cách phát huy tiềm năng giác ngộ lớn trong mỗi con người.

Vừa qua, phái đoàn “Đồng tu Tịnh độ” của Đài Loan sang thuyết pháp tại một số đạo tràng. Quan sát nội dung thuyết pháp của vị Pháp sư này thì câu mở đầu và câu kết thúc đều là “A-di- đà Phật”, nhưng rất tiếc người phiên dịch dịch là “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Có lẽ người phiên dịch cho rằng đức Phật Thích Ca và đức Phật A-di-đà có hai danh hiệu khác nhau và niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà là thuộc hành giả Tịnh Độ, còn niệm danh hiệu đức Phật Thích Ca là thuộc hành giả của một pháp môn khác. Như thế là chỉ hiểu một phần nào giá trị niệm danh hiệu Phật, mà chưa thấy được Phật tính dung thông ở chư Phật và thậm chí trong tâm thanh tịnh của chúng ta. Do đó, đừng nên ngại ngùng khi sử dụng danh hiệu “Nam mô A-di-đà Phật” để chào hỏi, giao tế và hành trì. Danh hiệu đức Phật là điều kiện quan trọng giúp hành giả đạt được trạng thái nhiếp tâm.

Đức Phật thiết lập sinh thái có tiếng chim hót, gió thổi, thông reo tạo ra âm hưởng để niệm Phật, Pháp và Tăng nhằm nhấn mạnh đến yếu tố truyền thống tâm linhtừ trợ duyên. Dùng danh hiệu “Nam mô A-di-đà Phật” hay “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” đều không khác nhau về phương diện bản chất.

Trong kinh A-di-đà, việc niệm Phật được hiểu là niệm đức Phật A-di-đà với hai đức tính quan trọng là Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Không nên hiểu Vô Lượng Quang theo nghĩa đen là hào quang toả ra xung quanh vùng đỉnh đầu, từ đó các tia ánh sáng được toả ra, như thế là ta vật chất hoá truyền thống tâm linh của đạo Phật. Hào quang không phải là tia ánh sáng mà là vùng từ trường tâm linh, có giá trị tuệ giác, từ bi, sự chuyển hoá và khai thông tất cả mọi ách tắc về cảm xúc, nhận thức của con người.

NẮM LẤY DANH HIỆU PHẬT

Khi niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà, hành giả liên tưởng đến tiềm năng tuệ giác không bị giới hạn bởi điều kiện vật lý và thời gian, nhờ đó hành giả chuyên nhất tâm vào tông chỉ và pháp môn, từ đó khai mở tiềm năng tuệ giác. Lúc ấy, hành giả sẽ sống trong sự cộng hưởng Vô Lượng Quang của Phật A-di-đà.

Vô Lượng Thọ là yếu tố chung của các cư dân, Thánh giả. Khi chứng đắc được đạo quả thì tiến trình sanh tử luân hồi sẽ bị chặt đứt. Chặt đứt được sanh tử thì yếu tố tuổi thọ sẽ không bị giới hạn bởi năm tháng. Nếu qua đời thì đó là hạnh nguyện để dấn thân ở những nơi khác. Chính vì thế mà tuổi thọ của cư dân nơi đây rất lâu dài. Nghĩa thứ hai của Vô Lượng Thọ là khi hành giả phát huy tiềm năng giác ngộ thông qua danh hiệu đức Phật A-di-đà thì sự hành trì rất bền vững. Nghĩa là khi hành trì pháp môn nào thì phải tới nơi tới chốn và không bỏ cuộc nửa chừng. Vô Lượng Thọ gợi lên hình ảnh bền bỉ, không bị bất cứ trở duyên hay ảnh hưởng ngoại tại nào có thể làm ta bỏ cuộc trên con đường tu tập.

Nhận thấy được hai ý nghĩa đó, hành giả hãy nhất tâm niệm Phật và phát nguyện vãng sanh theo lời dạy của đức Phật A-di- đà trong kinh này: “Bất luận nam nữ, muốn được vãng sanh thì hãy chuyên cần, khởi lòng khát ngưỡng, nhớ nghĩ không quên, thực tập quán niệm, nhất tâm bất loạn, trong vòng một ngày, cho đến bảy ngày. Trong giờ phút này, tâm ý người ấy phải thật yên tỉnh, như vào thiền định, không còn tán loạn, điên đảo mộng tưởng. Đến lúc qua đời, Phật A-di-đà, Thánh chúng hà sa dang tay tiếp dẫn, khiến được vãng sanh, dự hàng thánh chúng, không hề chia phân.”

Đoạn kinh ngắn này là tông chỉ niệm Phật. Đoạn kinh này có chiều sâu tâm linh lớn.

Thọ trì danh hiệu là một nhu cầu lớn. Trong các mối quan hệ, người ta thường giới thiệu thông tin cá nhân nhằm kết nối với đối tác. Việc nắm lấy thông tin là nhu cầu quan trọng trong các mối quan hệ. Đối với hành giả, nó giống nắm lấy địa chỉ tâm linh. Cách thức nắm lấy danh hiệu Phật có khả năng làm sống lại giá trị của sự tu tập. Nhờ nắm lấy địa chỉ, nhớ được đường đi, tông chỉ hành trì, pháp môn tu tập và giá trị lợi lạc mà tâm hành giả được khai thông. Tu tập tập thể sẽ tạo ra vùng ảnh hưởng tâm linh, nhờ nắm lấy danh hiệu của đức Phật. Nắm lấy những thông tin tâm linh cần thiết, hành giả thấy mình tinh tấn nhiều hơn. Tu tập tại tư gia dù trang nghiêm nhưng thiếu trường tâm linh của pháp hữu, đôi lúc ta có thể lười biếng hoặc đình chỉ sự tu tập nghiêm mật với nhiều lý do.

Niệm Phật trong kinh A-di-đà như là tiến trình của sự quán niệm. Quán niệm là nhu cầu thiết lập dòng chảy chánh niệm và tỉnh thức thông qua danh hiệu của đức Phật A-di-đà. Bản chất của khổ đau nằm ở tình trạng con người cắt đứt sự hiện hữu với chánh niệm. Đặt thân và tâm ở hai địa điểm khác nhau, (ví dụ thân đang có mặt tại chùa còn tâm thì đang tưởng nhớ về công việc gia đình), là tách sự hiện hữu của tâm ra khỏi dòng chảy của hiện tại, tâm dễ dàng bị phóng túng và tiến trình của sự quán niệm bị cắt đứt.

Kinh A-di-đà nêu phương pháp niệm Phật gồm hai cách là khẩu niệm và tâm niệm.

– Khẩu niệm là niệm Phật bằng âm thanh được phát ra từ miệng và giá trị của nó tạo ra sự quán tưởng bằng tâm. Sự quán tưởng bằng tâm tạo ra chiều sâu của hành trì.

– Tâm niệm là thiết lập dòng chảy chánh niệm dựa trên danh hiệu của đức Phật A-di-đà, khi ấy con người trở nên định tĩnh, không bị dính mắc vào đối tượng trần cảnh. Dán chánh niệm lên danh hiệu Phật, như vòng tròn và mặt phẳng tiếp xúc với nhau ở một điểm duy nhất. Ảo giác cho phép ta nghĩ rằng trong một đơn vị thời gian ta có thể nghĩ đến hai, ba hoặc thậm chí là nhiều đối tượng khác nhau. Đó là cách hiểu sai lầm. Nếu hành giả thiết lập chánh niệm trên danh hiệu đức Phật A-di-đà một cách liên tục và không gián đoạn thì tâm hành giả trở thành Vô Lượng Quang và Vô LượngThọ. Tất cả thái độ động tĩnh ở bên ngoài không còn tác động đến tâm thức của hành giả. Đây là phương pháp tu tập đơn giản nhưng đòi hỏi sự dụng tâm có phương pháp mới có thể đạt được kết quả như ý muốn.

Kinh Tứ Niệm Xứ là bài kinh quan trọng về thiền quán đề cập đến tính thời gian của phương pháp niệm. Đức Phật dạy các hành giả tu tập niệm Phật từ một năm cho đến bảy năm, hoặc từ một tháng cho đến bảy tháng hoặc ngắn hơn, từ một tuần cho đến bảy tuần. Dù bảy ngày hay bảy niệm với sự chuyên tâm nhất hướng, hành giả có thể đạt được trạng thái an vui, tĩnh tại trên cuộc đời.

CHÁNH NIỆM TỈNH THỨC

Trong kinh A-di-đà, thời gian được giới hạn từ một ngày cho đến bảy ngày, chánh niệm về danh hiệu A-di-đà được thiết lập trong tâm của hành giả. Khi ấy, hành giả như đang ở trạng thái thiền định, an vui, giải thoát, các cảnh tượng bên ngoài không còn tác động đến nội tâm và trạng thái vắng lặng này được gọi là nhất tâm. Bản chất của nhất tâm là thân ở đâu, tâm ở đó. Việc nuôi dưỡng dòng chảy của cảm xúc và ý niệm hoá khiến cho người ta có khuynh hướng lao theo nó. Ví dụ ta đang ngồi tại chánh điện nghe pháp thoại nhưng tâm bị phóng duyên theo những suy nghĩ về gia đình và người thân. Thiết lập chánh niệm trong trường hợp này dựa trên nền tảng những gì được tiếp xúc bằng mắt và nghe bằng tai, ta không còn bị tác động bởi trần cảnh hay những âm thanh ồn ào xung quanh. Có thiết lập chánh niệm trên danh hiệu A-di-đà thì các tạp niệm sẽ hoàn toàn vắng lặng.

Chánh niệm là làm thế nào cho thân và tâm có mặt cùng một chỗ. Sự có mặt của chánh niệm được kinh truyền thống gọi là “dán niệm trước mặt”, nghĩa là làm thế nào có được chánh niệm với những gì đang có mặt khi tiếp xúc quanh ta. Khi thiết lập chánh niệm mắt phải hơi nhắm lại, vì nếu mở to, tâm dễ phóng theo trần cảnh hoặc nhắm sát lại sẽ tạo trạng thái hôn mê, buồn ngủ. Do đó, hành giả chỉ mở mắt ở một mức độ vừa tầm để chánh niệm có mặt với cái đang diễn ra. Sự tâp trung ở lỗ mũi sẽ tạo ra trạng thái căng thần kinh, vì hoả sẽ dẫn lên đầu. Khái niệm chánh niệm phải được hiểu là sáu giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý  phải được làm chủ. Thiết lập chánh niệm là cách để cho tâm có mặt với sự hiện hữu, như chúng đang là.

Hành giả Tịnh độ khi có mặt ở chánh điện, hãy chấp tay trang nghiêm, miệng niệm danh hiệu A-di-đà, ngũ thể đầu địa bày tỏ lòng tôn kính đảnh lễ. Lúc bấy giờ chánh niệm tỉnh thức sẽ có mặt. Khi niệm là phải chuyên nhất vào danh hiệu đức Phật

A-di-đà, không nhớ nghĩ đến bất kỳ đối tượng nào khác Nhớ đến danh hiệu một cách rõ ràng là để tạo ra hiệu ứng tâm linh lớn cho hành giả. Bản chất của chánh niệm là làm cho tâm giám sát thân. Sự giám sát đó tạo ra tiến trình mà Tịnh độ tông gọi là nhất hạnh, nhất danh, nhất hướng và nhất niệm.

– Nhất hạnh là hạnh nguyện hành trì, thực tập dựa trên quán niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà và bản chất thế giới Tây phương Tịnh độ.

– Nhất danh là chỉ niệm duy nhất danh hiệu đức Phật A-di- đà mà không niệm một danh hiệu nào khác, dù trong bản kinh đức Phật có nói đến niệm Phật, Pháp và Tăng nhưng đó chỉ là cách nói bao quát. Thiết lập chánh niệm thông qua bản kinh này, hành giả chỉ niệm một danh hiệu Phật duy nhất và đây là nền tảng giúp ta có mặt ở chánh niệm.

– Nhất hướng là tâm hành giả không thể có mặt ở Đông, Tây, Nam, Bắc… mà có mặt ở ngay giây phút hiện tại này và ngay trần cảnh mà ta đang tiếp xúc.

– Nhất niệm là ý thức về sự hiện hữu của thân và những động tác trong tiến trình thực tập quán niệm và tu tập danh hiệu đức Phật A-di-đà. Lúc đó, cảnh sẽ xuất hiện rõ như tấm gương phản chiếu tất cả mọi thứ mà không hề có thái độ nhận định, đánh giá, phê bình, chỉ trích, tổng hợp, loại suy hay qui nạp. Tất cả mọi hoạt dụng với dòng chảy tư duy và nhận thức phải được lắng dịu xuống trong trạng thái chuyên nhất và bất loạn. Khi tu tập nhất tâm bất loạn thì hành giả cần chuyển hoá dòng cảm xúc và nhận thức.

Trong tiến trình này, hành giả cần làm thế nào để cho “kiến văn giác tri” chỉ đơn thuần là sự thấy, sự nghe, sự ngửi, và sự biết. Mọi hoạt dụng của ý thức nhị nguyên và phân biệt đối đãi cần được chuyển hoá, khi chấp vào ý thức nhị nguyên hành giả bị phóng tâm. Truyền thống Thiền gọi ý thức nhị nguyên là sự chọn lựa giữa các đối tượng trần cảnh. Thái độ chọn lựa làm cho con người khổ đau hoặc hạnh phúc. Sự chọn lựa, so sánh luôn diễn ra theo ba cách thế: so sánh hơn, so sánh bằng và so sánh kém.

Ba tiến trình này đều lấy bản ngã của con người làm thước đo, cán cân, đối trọng, hệ qui chiếu. Lúc đó ý thức nhị nguyên làm cho bản ngã được lớn mạnh. Nơi nào có bản ngã lớn mạnh thì nơi đó chánh niệm bị vắng bóng, khổ đau xuất hiện. Tiến trình phân biệt của các giác quan chỉ đơn thuần là sự kiện, không hề có sự can thiệp của ý thức nhị nguyên. Khi ấy, hành giả sẽ loại trừ được yếu tố phan duyên trần cảnh và nhờ đó tiến trình an vui, hạnh phúc được có mặt.

THỂ NGHIỆM NHẤT TÂM

“Nhất tâm” là trạng thái thân và tâm có mặt cùng một chỗ, “bất loạn” là cách thức duy trì trạng thái nhất tâm được lâu dài. Trạng thái lâu dài hiểu theo kinh A-di-đà là “từ một ngày đến bảy ngày”, với thời gian ngắn ta tưởng chừng như dễ nhưng thực ra không dễ tí nào, bởi vì trạng thái đó chỉ xuất hiện trong một tích tắc thời gian hoặc một thời gian dài hơn. Chẳng hạn Thế Tôn duy trì trạng thái nhất tâm trong bốn mươi chín ngày dưới cội bồ đề tạo ra tuệ giác tuyệt đối, đối với Tổ Bồ-đề Đạt- ma là chín năm diện bích. Tiến trình này đòi hỏi đến sự dụng tâm có phương pháp, và muốn được như thế, hành giả không bị loạn động với đối tượng trần cảnh.

Là nhà điêu khắc chạm trổ thì đối tượng nhất tâm là các tác phẩm nghệ thuật. Nếu là một hoạ sĩ thì đối tượng để đạt được nhất tâm là những bức tranh và nếu là một nhà thơ thì đối tượng đạt nhất tâm là cảnh trí. Mọi người đều có đối tượng để làm cho tâm gom về một chỗ. Việc gom tâm về một chỗ sẽ tạo ra trạng thái tĩnh tại của tâm trong thời gian nhất định. Thế nhưng các nghệ nhân  không vận dụng được nhất tâm bất loạn để tâm trí, cảm xúc và tư duy bay bổng, tạo ra tác phẩm nghệ thuật có ý tưởng, nội dung, do đó trạng thái loạn động về phân duyên trần cảnh đã có mặt.

Trạng thái bất loạn được hiểu là buông quá khứ, buông tương lai và không bị ràng buộc trong hiện tại. Bất loạn là nhu cầu quan trọng nhưng rất khó làm. Với những người có chứng bệnh dễ quên thì việc buông quá khứ khá dễ dàng, vì đó là một cách buông bất đắc dĩ do sự trục trặc chức năng của thần kinh bộ nhớ. Khi nhớ về quá khứ, khổ đau sẽ chồng chất nhiều hơn cảm giác của hạnh phúc. Mỗi lần đặt tâm quay về quá khứ thì dòng cảm xúc khổ đau ấy có dịp hâm nóng lại, lúc đó chánh niệm bị cắt đứt và danh hiệu của đức Phật A-di-đà sẽ bị lãng quên. Vì thế, hành giả niệm Phật để đạt nhất tâm phải hướng về trạng thái bất loạn, để tâm không quay về quá khứ, không hâm nóng và làm khổ đau gia tăng.

Tuy nhiên, việc không hâm nóng lại cảm xúc hạnh phúc trong quá khứ có thể làm cho người ta sống trong trạng thái tiếc nuối về những chuyện đã qua. Tiếc nuối cũng là dòng năng lượng có chức năng huỷ diệt giá trị chánh niệm tĩnh thức đang có mặt ở hiện tại. Hành giả Tịnh độ tông phải chặt đứt và thay thế nó bằng thái độ chuyển hoá mà không tạo ra cưỡng lực, vì bản chất của cưỡng lực là lòng sân. Đầu tư vào ý thức nhiều quá thì hoả sẽ đi lên đầu. Càng nỗ lực thiếu trách nhiệm thì càng có nhiều cản lực như là một phản ứng nội tại đang bấn loạn trong chiều sâu tâm thức của chúng ta.

Trạng thái buông quá khứ được hình dung giống như động tác của một bàn tay đang nắm lại rồi mở ra. Hoạt dụng của tay có thể nắm lấy rất nhiều thứ, ví dụ cái ly, nếu không buông nó thì chức năng và hoạt dụng của bàn tay sẽ mất đi. Tâm con người cũng giống như trạng thái nắm lấy của bàn tay. Nếu cứ ôm quá khứ vào trong lòng hiện tại thì quá khứ đó sẽ trở thành viện bảo tàng lịch sử của những chuyện đã qua. Trong khi đó, giá trị của đời sống hiện tại là cái đang diễn ra chứ không phải là cái đã đi qua. Buông quá khứ là tiến trình giúp thiết lập trạng thái bất loạn, nhờ đó mà nỗi khổ niềm đau có thể trôi qua nhẹ nhàng.

Buông tương lai là tiến trình làm hạn chế những giả định, mơ ước không đặt trên nền tảng của hiện tại. Chặt đứt dòng suy tưởng và phóng lao tâm về tương lai không có nghĩa là ta đánh mất trách nhiệm hay thái độ chuẩn bị chu đáo cho những việc sẽ làm. Hãy đầu tư ở hiện tại thì tương lai sẽ là hệ quả tất yếu. Mơ ước về hiện tại đôi lúc ta trở nên nóng vội và đánh mất sự nỗ lực quan trọng giúp thành tựu trong tương lai. Do đó, ta nên trở về hiện tại trong trạng thái rảnh rang không vướng mắc, bằng không, cứ bám víu vào nó sẽ bị rơi vào tình huống bệnh trách nhiệm dư thừa. Người có bệnh trách nhiệm dư thừa giao công việc thì họ làm rất tốt nhưng với căn bệnh này, họ lại tạo ra các giá trị thặng dư. Ví dụ một công việc nào đó có thể đầu tư khoảng hai giờ là có thể hoàn tất, nhưng họ lại đầu tư nhiều ngày. Trạng thái dư thừa này làm cho năng lượng con người bị đốt cháy trong quá khứ hoặc tương lai, trong khi bản chất của đời sống nằm ở hiện tại. Hành giả cần lưu tâm chặt đứt dòng chảy cảm xúc ra khỏi tiến trình hồi ức về quá khứ, và cách ly nó ra khỏi tiến trình mơ ước về tương lai. Hãy đầu tư trong hiện tại với trạng thái rảnh rang, hành giả sẽ đạt được bước đầu của bất loạn.

Pages: 1 2

Comments are closed.