Kinh Di Giáo Lược Giải – Phần 1 & 2

Phần 2: Chương II Nội Dung Kinh Di Giáo

A. Lời Mở Ðầu Của Kinh Di Giáo 

Vài lời ngắn gọn nhưng lời mở đầu đã khái quát cuộc đời của Ðức Phật từ lúc thuyết pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển cho 5 anh em Kiều Trần Như, cho đến lần thuyết pháp sau cùng độ cho Tu bạt đà la. Rồi dạy những lời di huấn cho đệ tử dưới cây Sa La trong hơi thở cuối cùng. Hình ảnh ấy qua lời mở đầu đã nói lên sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh vĩ đại của một bậc đạo sư.

Ý tứ lời mở đầu là:

1. Giới thiệu tổng quát cuộc đời thuyết pháp độ sinh của Ðức Phật từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc. Coi trọng công cuộc độ sanh tức là nhấn mạnh mặt tích cực, mặt lợi ích mà đức Phật đã cống hiến cho cuộc đời.Thường thì khi giới thiệu đức Phật, người ta thường bắt đầu khi Ngài sinh ra, lớn lên xuất gia tu học…cho đến nhập diệt. Nhưng ở đây muốn nhấn mạnh cuộc đời độ sinh hơn.

2. Cuộc đời độ sinh của Ngài, hạnh nguyện của Ngài đến đây đã viên mãn như kinh thường nói: Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn. Nhưng những gì cần làm đã làm xong, những người có thể độ đã hóa độ tất cả. Ðiều này cũng nói lên sự hoàn thiện, vi diệu của giáo pháp, nhờ vậy mà đạt được những thành quả lớn lao.

3. Những lời Di giáo sắp nói đây là những điều cốt yếu của giáo pháp.Giáo pháp đức Phật đã giảng dạy suốt cuộc đời rất rộng rãi bao la khó lĩnh hội hết được. Cuối cùng, lúc sắp nhập Niết bàn Ngài đã tóm tắt những điều cốt lõi thiết yếu nhất để cho đệ tử nuơng vào đó mà tu học, khỏi bị bơ vơ lạc lối.

B. Giới Học 

I. Xác Ðịnh Giới Luật Là Ðạo Sư.

Từ “Nhữ đẳng tỳ kheo… vô dị thử giả”: Kinh văn nói rất rõ rằng sau khi đức Phật diệt độ thì phải tôn trọng quí kính tịnh giới, như người mù được mắt sáng thì phải giữ gìn con mắt đó, như người nghèo mà được vàng ngọc thì phải bảo vệ nó. Phải biết rằng tịnh giới là đức thầy cao cả chẳng khác nào đức Phật còn tại thế.

Trong giới bổn tỳ kheo cũng nói tương tự về sự giá trị của giới:

“Giới như biển cả  
không có bờ mé  
lại như ngọc báu  
cầu hoài không chán”

và:

“Như Lai đã khéo  
nói ra giới kinh  
Như Lai lại khéo  
Nói ra giới pháp  
Dầu rằng Như Lai  
Nhập vào Niết bàn  
Chư vị hãy coi  
Giới ấy như Phật” (Tỳ kheo giới, Trí Quang dịch 1994)

Tôn trọng giới luật có nghĩa là tôn trọng con đường đưa đến giải thoát, bởi lẽ giới là nền tảng cho định tuệ. Cũng có nghĩa là tôn trọng giữ gìn điều thiện điều tốt, biểu hiện tâm hướng thượng của người Phật tử vì đặc tính của giáo pháp là có khả năng hướng thượng.

Sau cùng, tôn trọng giới luật. Coi giới luật như Phật là thể hiện trách nhiệm đối với sự tồn vong của Phật pháp, như giới kinh đã dạy:

“Giới kinh tồn tại  
lâu dài trong đời  
thì pháp của Phật  
sẽ được hưng thịnh” (Tỳ Kheo giới, Trí Quang dịch)

II. Những Giới Ðiều Tiêu Biểu 

Từ “Giữ tịnh giới… không nên tích trữ “

1- Ðoạn này nêu lên một số giới điều tiêu biểu nhưng rất cụ thể – Những giới điều này phù hợp với một số giới điều trong giới bổn và một số thì trong các kinh.

Trong 30 giới xả đọa của tỳ kheo giới, giới thứ 19 nói: “Nếu tỳ kheo mà đổi chác các thứ tiền và của báu thì phạm ni tát kỳ ba dật đề”. Giới 20 nói: “Nếu tỳ kheo mà mua rẻ bán đắt mọi thứ thì phạm ni tát kỳ ba dật đề” (Tỳ kheo giới Trí Quang dịch). Những giới điều đó tương đương với lời Phật dạy trong đoạn này: “Các thầy không được buôn bán, đổi chác, sắm sửa đất nhà, nuôi người tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh tài bảo.

Trong 90 giới Ba dật đề, giới thứ 10 nói:” Nếu tỳ kheo tự tay đào đất hay bảo người đào đất thì phạm Ba dật đề”. Giới thứ 11 nói: “Nếu tỳ kheo chặt phá cây cối thì phạm Ba dật đề”. Kinh Di giáo nói gọn hơn:”Kể cả việc chặt phá cây cỏ và đào cuốc đất đai.”

Những điều như:”chế thuốc thang, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số…không tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc, chú thuật, thuốc tiên, giao hảo kẻ quyền quý…” đều có ở trong các giới bổn như điều 18 trong 24 thiên oai nghi, giới thứ 29 của Bồ tát giới.

2. Ðoạn này trình bày một số giới điều, dù không đủ như giới bổn, nhưng rất rõ là thiết lập giới theo công thức giới trong bát chánh đạo: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

a) Chánh ngữ: là ngôn ngữ chân chánh, nghĩa là không tà ngữ, theo HT Trí Quang thì: “Tà ngữ theo tà pháp và tà ngữ theo tà nhân. Tà ngữ theo tà pháp là tà thuật như đọc chú thuật. Tà ngữ theo tà nhân là giao hảo với quyền quý, nên nói năng với họ một cách hèn hạ, thân thiết với họ rồi ăn nói với người khác một cách ngạo mạn (Trí Quang giải).

b) Chánh nghiệp: Hành vi chân chánh, trái lại là tà nghiệp , gồm tiết chế cơ thể, ăn đúng thì giờ, sống bằng cách sống trong sạch, không tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc…

c) Chánh mạng: phương tiện sinh sống chân chánh, trái lại là tà mạng, gồm: “buôn bán đổi chác, sắm sửa đất nhà, nuôi người tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh vàng bạc, điều chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết , tính lịch số đều không thích hợp.

Như vậy giới được trình bày là những điều kiện bảo đảm cho hành vi đạo đức gồm hành vi ngôn ngữ, phương tiện sinh sống, ngăn ngừa thân khẩu ý đi vào con đường sai lầm và tội lỗi. Mặt khác ngăn ngừa những trường hợp thế tục hóa hàng ngũ xuất gia. Ðó là thể hiện tinh thần của giới bổn và biểu hiện hành tướng của người xuất gia như đức Phật thường dạy: “Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi và chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt.” (Trung bộ kinh III).

This entry was posted in Kinh Pháp, Phật Giáo. Bookmark the permalink.